Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y học. Hiển thị tất cả bài đăng

29 thg 11, 2010

Xoa bóp, bấm huyệt

Xoa bóp, bấm huyệt không đúng cách gây tổn hại cho sức khỏe

Xoa bóp, bấm huyệt là một phương pháp chuyên ngành vật lý trị liệu có từ ngàn năm. Xoa bóp nhằm phục hồi sức khỏe sau một ngày làm việc mệt nhọc hoặc phục hồi bệnh lý. Đối với những người bị mệt mỏi cơ bắp, tay chân bải hoải, nhức mỏi, đau đầu, đau lưng, căng thẳng trí óc... xoa bóp có thể giúp thư giãn, minh mẫn hơn. Tuy nhiên, thực tế có những người sau khi xoa bóp, xông hơi không những không khỏe ra mà còn bầm tím người, thậm chí ê ẩm hơn. Nguyên nhân thường do nhân viên thiếu chuyên môn xoa bóp, bấm huyệt không đúng cách và không phù hợp với thể trạng từng bệnh nhân. Do vậy xoa bóp, xông hơi không đúng cách có thể gây tai biến có hại cho sức khỏe.
Những điều nên tránh khi xoa bóp và xông hơi:
- Không đi xoa bóp khi đã uống rượu - bia hoặc đang bị sốt, viêm nhiễm: bệnh nhân say rượu hay sốt quá cao đều có thể bị xỉu trong phòng xông hơi hoặc gặp nhiều tai biến khác. Trường hợp bệnh nhân bị viêm nhiễm, sốt cao, khối u, nhiễm trùng, có những vết da lở loét... đều có thể làm lây nhiễm cho người khác.
- Không nên thực hiện những động tác như di cột sống lưng, giậm trên lưng cả người. Những động tác "thô bạo" này dễ gây tai biến, thậm chí gãy xương sườn, chấn thương cột sống... Nhất là đối với những bệnh nhân bị loãng xương.
- Ngoài ra, những người bị suy tim, tăng huyết áp cũng cần cẩn thận, tốt nhất là không nên đi xoa bóp.

- Việc giác hơi, cạo gió lề đường, tay ngang hoặc những cơ sở thiếu vệ sinh có thể bị phỏng nhiễm trùng, chưa kể những trường hợp có thể nhiễm viêm gan siêu vi, HIV...
- Nhiều người muốn giảm béo phì một cách nhanh chóng bằng cách xông hơi thật lâu, cho mồ hôi ra thật nhiều là không nên. Nguyên tắc xông hơi chỉ khoảng 10 phút. Nếu xông hơi lâu và nhiều quá sẽ dẫn đến tình trạng mất nước, choáng, xỉu, phải cấp cứu.
(Theo Bác sĩ Ngọc Quang // Báo Sức khỏe và Đời sống)

3 thg 11, 2010

Viêm khớp Gút (Gout)




MỘT SỐ HÌNH ẢNH:





KHÁI QUÁT

Gút là một bệnh lí do rối loạn chuyển hóa protein trong cơ thể, một bệnh lí quan trọng trong nhóm bệnh lí khớp do tinh thể.
Quá trình chuyển hóa Protein bất thường trong cơ thể đã làm gia tăng quá mức lượng a.uric trong máu, điều này dẫn đến sự lắng đọng các tinh thể urate trong các mô của cơ thể, trong đó có khớp. Dẫn đến viêm khớp.
Viêm khớp Gút không khó chẩn đoán. Dễ kiểm soát do đáp ứng tốt với điều trị, nhưng đòi hỏi việc tuân thủ điều trị một cách tích cực ngay từ đầu. Trong đó, việc kiểm soát chế độ dinh dưỡng đóng một vai trò rất quan trọng.

DỊCH TỄ
Thường gặp ở nam giới, tỉ lệ khoảng 90%.
Đa số khởi phát sau tuổi 40.

NGUYÊN NHÂN
Trên 90% không xác định được nguyên nhân. Nhưng các yếu tố về gia đình, lối sống có vai trò quan trọng.
Một số ít các trường hợp do bệnh lí thận, bệnh lí huyết học, do dùng thuốc kháng lao, thuốc chống ung thư, thuốc lợi tiểu ...

CƠ CHẾ BỆNH SINH
A.uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa acid nhân trong cơ thể. Bình thường nồng độ a.uric trong máu < 7mg/dl và lượng a.uric được thải qua nước tiểu > 800 mg/24 giờ.
Tăng sản xuất a.uric hoặc giảm đào thải a.uric qua nước tiểu hoặc kết hợp cả hai sẽ làm cho lượng a.uric máu vượt quá 7mg/dl dẫn đến việc hình thành các tinh thể muối urate. Các tinh thể này lắng đọng ở khớp gây viêm khớp, lâu dần dẫn đến phá hủy khớp.

LÂM SÀNG
Diễn biến tự nhiên của bệnh Gút qua 3 giai đoạn:

Tăng a.uric máu không triệu chứng có thể kéo dài 10 - 30 năm cho đến khi xuất hiện cơn Gút cấp đầu tiên. Không có bằng chứng về tổn thương cơ quan trong thời gian này.
Cơn Gút cấp thường diễn ra đột ngột, với biểu hiện đau dữ dội kèm theo sưng, đỏ, nóng vùng khớp. Diễn biến nhanh, tiến triển tối đa trong khoảng 24 - 48 giờ. Điều trị thích hợp triệu chứng giảm nhanh, nhưng thậm chí không điều trị, sưng đau khớp cũng tự hết trong vòng 1 - 2 tuần.
Cơn Gút đầu tiên thường chỉ xảy ra ở 1 khớp, hơn một nửa số bệnh nhân có biểu hiện ở khớp bàn ngón I bàn chân, còn lại có thể gặp ở khớp cổ chân, khớp gối, gót chân. Các khớp cổ tay, bàn tay, khuỷu thường bị ở giai đoạn sau. Có thể kèm theo sốt, ớn lạnh, mệt mỏi ...

Khoảng cách giữa cơn Gút đầu tiên và thứ 2 có thể từ vài tháng đến vài năm thậm chí là trên 10 năm. Theo thời gian các cơn Gút cấp xảy ra thường xuyên hơn, ít cấp tính, thời gian kéo dài, số lượng khớp viêm nhiều hơn và không tự khỏi.
Thời kỳ giữa các cơn Gút cấp, các khớp viêm trước đó hoàn toàn không sưng đau, nhưng các tinh thể urate trong dịch khớp vẫn tiếp tục lắng đọng và có thể xuất hiện hạt Tophy trên Xquang.

CHẨN ĐOÁN
* Tiêu chuẩn ARA 1968 (Bennett PH):
1. Tìm thấy tinh thể urate trong dịch khớp hoặc trong tổ chức.

2. Hoặc có từ 2 trong số các tiêu chuẩn sau:
. Có tiền sử chắc chắn và/hoặc quan sát thấy trên 2 đợt sưng đau cấp ở một khớp. Khởi đầu đột ngột, đau dữ dội và mất đi trong vòng 2 tuần.
. Có tiền sử chắc chắn và/hoặc quan sát thấy một cơn viêm cấp đáp ứng với tiêu chuẩn 1 ở khớp bàn ngón chân cái.
. Có hạt tophy ở vành tai hoặc quanh khớp.
. Đáp ứng đặc hiệu với Colchicine (trong vòng 48 giờ) hiện tại hoặc trong tiền sử.

* Tiêu chuẩn Wallace SL.et al, 1977:
1. Tiền sử có một cơn viêm khớp cấp. Theo sau là giai đoạn không triệu chứng.
2. Hiện tượng viêm đáp ứng tốt với Colchicine (trong vòng 48 giờ) và không viêm khớp khác trong ít nhất 7 ngày.
3. A.Uric máu > 7 mg/dl).

* Tiêu chuẩn của ILAR và Omeract năm 2000:
- Hiện diện tinh thể urate trong dịch khớp. Hoặc
- Hiện diện tinh thể urate trong hạt Tophy, xác định bằng phương pháp hóa học hoặc kính hiển vi phân cực.

Hoặc
- có 6/12 dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm và Xquang dưới đây:

1. Có nhiều hơn một cơn viêm khớp cấp tính.
2. Viêm tiến triển tối đa trong vòng 1 ngày.
3. Viêm 1 khớp.
4. Đỏ vùng khớp.
5. Sưng đau khớp bàn ngón, ngón I.
6. Viêm khớp bàn ngón chân, ngón I một bên.
7. Viêm khớp cổ chân một bên.
8. Hạt Tophy.
9. Tăng a.uric máu > 7mg/dl
10. Sưng khớp không đối xứng.
11. Nang dưới vỏ xương, không khuyết xương.
12. Cấy vi sinh dịch khớp âm tính trong quá trình viêm.

ĐIỀU TRỊ
1. Mục đích điều trị:
- Giảm đau nhanh và an toàn.
- Ngăn ngừa các cơn gút cấp.
- Ngăn ngừa sự hình thành hạt Tophy và sự hủy hoại khớp.
- Kiểm soát các bệnh lí kết hợp.

2. Phương pháp điều trị:
- Tiết chế dinh dưỡng: Hạn chế các thức ăn chứa nhiều nhân purin như thịt bò, thịt chó ... + nội tạng động vật như tim, gan, thận, ruột, huyết...trứng vịt lộn. Hạn chế rượu bia.
- Điều trị triệu chứng bằng các thuốc giảm đau, kháng viêm không steroid hoặc steroid trong một số chỉ định cụ thể.
- Điều trị giảm a.uric máu. Mục tiêu giảm nồng độ a.uric máu < 5mg/dl.

3. Thuốc cụ thể:
- Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs): Là thuốc chủ yếu điều trị cơn Gút cấp, do tác dụng giảm đau tốt. Khởi đầu với liều tối đa, giảm liều khi triệu chứng giảm. Trong 3 ngày đầu nên sử dụng đường tiêm, sau đó chuyển sang đường uống. Các thuốc hay dùng:
. Diclofenac 50 mg, 75mg: 150 - 200 mg/ngày.
. Piroxicam 20 mg: 20 - 40 mg/ngày.
. Meloxicam 7,5 mg: 7,5 - 15 mg/ngày.
. Celecoxib 200 mg: 200 - 400 mg/ngày.
.....
- Trước đây Colchicine được coi là thuốc đặc hiệu trong điều trị Gút (đặc biệt là Gút cấp) và được đưa vào trong tiêu chuẩn để chẩn đoán Gút cấp do đáp ứng tốt của bệnh với thuốc. Hiện nay Colchicine không còn là lựa chọn đầu tay trong điều trị Gút cấp do tác dụng giảm đau kém hơn so với NSAIDs và có nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa, nhưng nó vẫn được sử dụng để ngăn ngừa các cơn Gút cấp khi bắt đầu sử dụng các thuốc hạ a.uric máu.

Colchicine 1mg: 3mg - 6mg/ngày trong ngày đầu, 1mg - 2mg trong các ngày tiếp theo.

- Thuốc kháng viêm steroid: 
Sử dụng trong trường hợp có chống chỉ định hoặc dùng không hiệu quả với NSAIDs, Colchicine. Thường dùng Prednisolon, Methylprednisolon, Triamcinolone uống hoặc tiêm. Khởi đầu với liều 20 - 40 mg/ngày, giảm dần liều, ngưng trong vòng 1 - 2 tuần. Có thể tiêm trực tiếp vào khớp trong trường hợp viêm 1 khớp.

- Thuốc giảm tổng hợp a.uric:
. Allopurinol: Khởi đầu 100 mg/ngày, tăng dần, tối đa 800mg/ngày.
. Febuxostat(Uloric/Takeda): 80 - 120 mg/ngày, tăng liều sau mỗi 2 tuần nếu cần. (Mới được FDA công nhận. Hiện tại chưa có mặt chính thức tại thị trường VN)

- Thuốc tăng thải a.uric:
. Probenecid: Khởi đầu 250 mg × 2 lần/ngày, tăng dần, tối đa 2000 mg/ngày.
. Sulfinpyrazon: Khởi đầu 50 mg × 2 lần/ngày, tăng dần, tối đa 800 mg/ngày

BS. NGUYỄN ANH MINH

2 thg 11, 2010

Bệnh gút và cách phòng tránh


Bệnh nhân gút không nên ăn nhiều thịt bò.
Sau một bữa tiệc thịnh soạn với đầy rượu thịt, nếu có cơn đau dữ dội nổi lên ở các khớp, nhiều khả năng là bạn đã bị bệnh gút (thống phong). Bệnh xuất hiện do hàm lượng axit uric trong máu tăng cao, triệu chứng điển hình là nổi u cục hoặc viêm ở các khớp.  
Tiến sĩ Nguyễn Thị Bay, Đại học Y dược TP HCM, cho biết, các u cục có đường kính từ vài mm đến nhiều cm, không đau, thường xuất hiện ở khớp ngón chân, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, sụn vành tai... Đôi khi, chỗ da bọc khối u bị loét và chảy nước vàng. Còn tình trạng viêm thường xuất hiện ở các khớp bàn chân, bàn tay, cổ tay, khuỷu tay, đầu gối, diễn tiến chậm và gây đau nhẹ (trừ những cơn đau cấp sau bữa ăn có nhiều rượu thịt).
Bệnh gút tiến triển trong 10-20 năm. Đến giai đoạn cuối, bệnh nhân mất khả năng vận động, có nhiều biến chứng ở thận, suy kiệt dần, có thể dẫn đến tử vong.
Để phòng tránh và hạn chế sự phát triển của bệnh gút, cần kiêng rượu và các chất kích thích như cà phê, ớt. Hạn chế dùng bia và các thức ăn nhiều đạm như thịt đỏ, phủ tạng động vật, hải sản. Nên ăn nhiều hoa quả và rau; uống các loại nước khoáng thiên nhiên chứa bicarbonat. Ngoài ra, cần tránh làm việc quá sức và ăn uống quá mức, không để cơ thể bị nhiễm lạnh hoặc táo bón.
Những người bị gút có thể làm giảm triệu chứng bệnh bằng cách hái lá sake già để nấu nước uống thay trà hằng ngày (hoặc nhúng lá tươi vào nước sôi rồi đem phơi khô, nấu lấy nước uống).
Thanh Niên

Bệnh gút

Một bức tranh biếm họa 1799 mô tả bệnh gút

Bệnh gút (gout) hay còn gọi là thống phong, là một loại viêm khớp, thường gặp ở nam giới. Phần lớn các bệnh nhân gút được chẩn đoán là nam giới tuổi trung niên có cơn gút cấp trên một tiền sử bệnh tiềm ẩn và phần lớn bệnh nhân có uống rượu thường xuyên.

Nguyên nhân

Trong bệnh gút, viêm xảy ra do các tinh thể nhỏ của một chất gọi là acid uric lắng đọng trong khớp. Có nhiều nguy cơ lắng đọng nếu nồng độ acid uric cao trong cơ thể. Uric axit là một chất thải hình thành bởi sự phá hủy tự nhiên chất purin trong cơ thể (chất purin có trong các tế bào của cơ thể).

Gout là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa purine làm tăng acid uric máu dẫn đến ứ đọng tinh thể muối urate tại khớp gây viêm khớp, biểu hiện lâm sàng đặc trưng là sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội tại một hay nhiều khớp. Đa phần bệnh nhân khi điều trị dứt được cơn đau đều tự cho là đã khỏi bệnh mà không biết rằng bệnh vẫn đang âm thầm tiến triển. Nếu không được điều trị tiếp tục, các cơn đau sẽ xuất hiện trở lại ngày càng nhiều và nặng hơn, giai đoạn muộn hơn có thể xuất hiện những u, cục gọi là hạt tophi xung quanh khớp, ảnh hưởng rất lớn đến thẩm mỹ, có nguy cơ gây biến dạng khớp và có thể dẫn đến tàn phế.

Nguy cơ mắc bệnh

Đàn ông có nhiều khả năng mắc bệnh gút hơn phụ nữ. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm béo phì, tiền sử gia đình, bệnh thận, huyết áp cao, hội chứng chuyển hóa, nghiện rượu và sử dụng của một số thuốc (aspirin, thuốc lợi tiểu).

Triệu chứng

Giai đoạn đầu tiên thường là không có bất kỳ triệu chứng nào ngoại trừ nồng độ acid uric trong máu cao. Các triệu chứng đầu tiên thường gặp là ngón cái sưng đỏ và đau nhức. Và thường có đau các khớp bao gồm các khớp mắt cá chân, bàn chân, đầu gối, cổ tay, khuỷu tay và khớp nhỏ của bàn tay. Các tinh thể acid uric gây viêm khớp, dẫn đến sưng đỏ, nóng, đau, và cứng khớp. Hầu hết các bệnh nhân có các cơn đau tái phát trong vòng 2 năm. Nếu không chữa trị, trong giai đoạn sau, các cơn đau khớp cấp gây tổn thương nhiều khớp, làm tổn thương khớp, mất vận động, đau mãn tính và hình thành cục tophi (tinh thể urate lắng đọng trong mô mềm).


Photobucket Photobucket Photobucket

Chẩn đoán

Gút thường được chẩn đoán lâm sàng bằng cách chọc hút dịch khớp và tìm tinh thể acid uric dưới kính hiển vi. Trong cơn gút cấp, nồng độ acid uric máu có thể bình thường, do đó không thể sử dụng xét nghiệm máu để loại trừ chẩn đoán gút cấp. Tuy nhiên, có thể giám sát nồng độ acid uric máu để theo dõi hiệu quả của phương pháp điều trị thể hiện ở nồng độ urate trong máu giảm.

Điều trị

Sau khi đã chẩn đoán xác định, sẽ chỉ định dùng thuốc trong điều trị cơn gút cấp. Đối với hầu hết các bệnh nhân, thuốc tốt nhất trong cơn gút cấp là thuốc kháng viêm không phải Steroid (NSAID). Có thể sử dụng thuốc thay thế NSAIDs là colchicine dùng 2-3 lần / ngày. Đôi khi, steroid được sử dụng để điều trị bệnh gút. Nếu các cơn gút cấp xảy ra thường xuyên và nặng hơn, cần can thiệp y tế kịp thời.

Phòng tránh

Nếu bạn đang thừa cân hay béo phì thì việc giảm cân qua ăn uống lành mạnh và thường xuyên hoạt động thể chất là điều rất quan trọng. Nghiên cứu cho thấy giảm cân có thể làm giảm nồng độ acid uric và giảm xuất hiện các cơn gút cấp. Nếu bạn nghiện rượu, bạn nên giảm hoặc ngưng hoàn toàn. Uống nhiều bia hoặc rượu mạnh làm tăng cơ hội mắc bệnh gút. Bạn nên uống ít nhất 2-3 lít nước mỗi ngày vì nó giúp loại bỏ acid uric trong cơ thể. Ăn thực phẩm có nhiều purin (như cá cơm, cá mòi, ngỗng,...) cũng có thể gây tăng acid uric. Những người mà ăn nhiều hải sản và thịt (đặc biệt là thịt nội tạng như gan, thận, não, tim) cũng có nguy cơ mắc bệnh gút.

(Nguồn Wikipedia, Ảnh sưu tầm)

1 thg 11, 2010

Cách chữa bệnh hôi nách

Cơ thể có hai loại tuyến mồ hôi. Tuyến mồ hôi nước chiếm đa số ở khắp nơi, nằm rải rác trên da, nhiều nhất ở lòng bàn tay, bàn chân và trán. Tuyến mồ hôi nhày có ở nách, vùng sinh dục, chỉ bắt đầu phát triển từ tuổi dậy thì, hoạt động mạnh trong độ tuổi sinh đẻ và giảm hoạt động khi nhiều tuổi. Mồ hôi nhày ngoài thành phần giống như mồ hôi nước còn có thêm glycogen, cholesterol... Nhiều nhà y học cho rằng ở những người hôi nách có sự cấu tạo đặc biệt của thành phần mồ hôi và chất bã gồm quá nhiều các hợp chất amoniac, acid béo có trọng lượng phân tử thấp... Sự phân hủy tổ chức đã bị ngấm mồ hôi bởi các vi khuẩn, nấm tạo nên một tổ hợp mùi ở nách rất khó ngửi.

Hiện nay chưa có thuốc nào chữa khỏi dứt điểm, chỉ có các thuốc hạn chế hôi nách. Có thể dùng:

- Hóa chất bôi xoa tại chỗ: Tắm, lau rửa thường xuyên hai bên hố nách, sau đó lau khô, bôi vào nách dung dịch formol 3% có tác dụng diệt khuẩn, chống nấm, hoặc dùng dung dịch acid cromic 5% làm cho các tuyến mồ hôi ở nách teo lại giảm bài tiết.

- Trapha: Là dạng thuốc bột gồm có đồng sulfat, kẽm oxyd và kali nhôm sulfat khan. Sau khi tắm, lau khô, rắc hoặc xoa thuốc vào hai bên nách 1-2 lần/ngày. Thuốc có tác dụng làm giảm bài tiết của tuyến mồ hôi nhày, thực hiện liên tục hai tuần sẽ có hiệu quả.

- Uống chlorophyl: Dạng viên bao đường do Áo sản xuất, 50 mg/viên. Chlorophyl có tác dụng khử các mùi khó chịu, liều thường dùng là 1-4 viên/ngày. Thuốc không độc, không có tác dụng phụ khó chịu, có thể tăng liều không giới hạn (tùy theo trường hợp khuyến cáo khi cần thiết) mà không có hại. Sau khi uống 30 phút có thể giảm được mùi khó chịu. Uống liên tục 30 ngày cho đến khi hết mùi hôi thì thôi. Nếu vẫn còn mùi hôi thì dùng tiếp một đợt nữa.

- Tiêm toxin botulinum: Không cần tiêm vào sâu đến tận lớp cơ (như dùng điều trị thẩm mỹ) mà chỉ tiêm ở lớp da nông vùng nách 1-2 lần/năm. Cách này chưa áp dụng ở Việt Nam.

Hiện nay trên thị trường có nhiều loại mỹ phẩm khử mùi hôi nách với các tên thương mại DR.Pauls, Deodorant... ở dạng phun hơi, sáp, hay bi lăn. Công thức của loại này gồm có chất diệt vi khuẩn, chất làm giảm tiết mồ hôi (muối nhôm, acid tanic) và các hoạt chất bắt giữ mùi hôi. Chúng tác dụng với các chất có mùi hôi ở nách tạo thành một hợp chất không có mùi. Dùng phun xịt, hoặc lăn vào nách 2 lần/ngày, khi bớt thì dùng duy trì ngày một lần.

Ngoài ra, trong nhân dân có kinh nghiệm dùng phèn chua phi lên tán thành bột xát vào nách khử mùi hôi; hoặc dùng gừng gió (còn gọi gừng rừng, gừng dại) khô tán bột mịn (20 g), trộn đều với long não (4 g), xoa vào nách 2 lần/ngày.

HH.
(Sưu tầm)

6 thg 8, 2010

Những thực phẩm không tốt cho thai nhi

(Dân trí) - Những gì mẹ ăn vào có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi.
1. Đồ hộp
 
Trong quá trình chế biến đồ hộp, người ta thường cho vào một số chất bảo quản nhất định. Mặc dù những chất bảo quản này không gây ảnh hưởng lớn đối với sức khỏe của người lớn nhưng nếu phụ nữ có thai ăn quá nhiều sẽ không tốt cho sức khỏe.
 
Bản thân đồ hộp không có giá trị dinh dưỡng cao, nếu tiếp tục nấu ở nhiệt độ cao thì vitamin và các thành phần dinh dưỡng khác trong thực phẩm sẽ bị “phá hỏng”.

2. Quẩy
 Những thực phẩm không tốt cho thai nhi
Quẩy là món ăn thường được người Việt mình lựa chọn kết hợp ăn cùng với phở và cháo nhưng khi “bầu bí” thì nên hạn chế ăn món này. Y học nghiên cứu chứng minh, trong quá trình chế biến quẩy cần phải cho vào một lượng phèn chua nhất định. Nếu ăn 3-4 cái quẩy sẽ làm cho cơ thể hấp thụ khoảng 3g phèn chua. 
 
Trong phèn chua hàm chứa nhôm, nếu hấp thụ một lượng nhôm lớn vào trong cơ thể thì sẽ rất nguy hại cho bộ não, làm tăng nguy cơ sinh trẻ bị thiểu năng trí tuệ.

3. Rau chân vịt
 
Chúng ta đều cho rằng rau chân vịt có chứa chất sắt phong phú, có chức năng bổ máu, vì vậy được xem là loại rau tốt nhất để phòng chống thiếu máu cho phụ nữ có thai. Thực ra trong rau chân vịt chứa sắt nhưng không nhiều mà chủ yếu là chứa axit oxalic. Thế nhưng axit oxalic là kẻ thù không đội trời chung với canxi và kẽm, ảnh hưởng đến sự hấp thụ của canxi và kẽm ở trong đường ruột.
 
Canxi và kẽm là hai loại khoáng chất không thể thiếu trong cơ thể, nếu phần lớn bị acid oxalic phá hỏng thì sẽ làm cho thai phụ thiếu canxi và kẽm. Thiếu canxi sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển về xương và răng của thai nhi, thiếu kẽm sẽ làm cho thai phụ biếng ăn và thai nhi không thể hấp thụ đầy đủ dinh dưỡng từ cơ thể mẹ, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi.

4. Quả sơn tra
 
Sơn tra có vị chua ngọt vừa miệng, ăn vào giúp tiêu hóa, là một loại thực phẩm rất được các chị em ưa chuộng, đặc biệt là trong thời gian bầu bí thì lại càng thích ăn.Chuyên gia y học chỉ ra rằng, mặc dù sơn tra rất tốt nhưng phụ nữ có thai không nên ăn nhiều vì trong sơn tra có chứa một số thành phần có thể kích thích cơ tử cung co bóp, từ đó làm cho tử cung thu co, gây ra sẩy thai. Đặc biệt là những người trước đây đã có tiền lệ bị sẩy thai, trong thời gian này cũng không nên ăn sơn tra để đề phòng bất trắc.

5. Sô-cô-la
 
Socola có vị ngon ngọt dễ ăn, là đồ ăn vặt được nhiều chị em yêu thích. Nhưng nếu ăn quá nhiều sô-cô-la sẽ làm cho thai phụ có giảm giác no bụng, từ đó ảnh hưởng đến cảm giác ăn uống và kết quả là cơ thể thai phụ càng ngày càng phát phì nhưng dinh dưỡng cần thiết thì lại thiếu.

6. Khoai tây để lâu
 
Trong khoai tây chứa nhiều kiềm sinh vật, khoai tây để càng lâu thì hàm lượng kiềm sinh vật càng cao. Nếu ăn quá nhiều khoai tây để lâu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi, quá nặng thì sẽ làm cho thai nhị dị hình dị dạng. Đương nhiên, cơ địa của từng người khác biệt rất lớn, không phải ai ăn vào cũng sẽ “có chuyện” nhưng thai phụ không nên ăn là tốt nhất.

7. Gia vị
 
Các gia vị thường gặp có tiểu hồi hương, bát giác, hạt tiêu, ngũ vị hương… Thai phụ nếu ăn nhiều loại gia vị này dễ tiêu hao lượng nước trong đường ruột, làm cho đường ruột giảm bài tiết, gây ra khô đường ruột và táo bón.   

8. Mỳ chính
 
Thành phần chủ yếu của mỳ chính là sodium glutamate, chất kẽm trong máu sau khi kết hợp với chất này thì sẽ đẩy ra ngoài qua đường tiểu tiện. Nếu ăn quá nhiều mỳ chính sẽ làm tiêu hao đại lượng kẽm, gây ra thiếu kẽm trong cơ thể thai phụ. Kẽm là một “vật phẩm” cần thiết cho sự phát triển và sinh trưởng của thai nhi, vì vậy phụ nữ có thai nên hạn chế ăn mỳ chính.
 
Việt Anh
Theo PK

3 thg 8, 2010

Hàng loạt cây xanh trong nhà chứa chất độc chết người

Việc trồng vài cây cảnh nhỏ trong nhà hoặc nơi làm việc là sở thích của người Sài Gòn trong nhiều năm nay. Tuy nhiên, các nhà sinh học cảnh báo trong số đó có nhiều loại cây chứa độc tố gây chết người nếu ăn phải.
 
Trao đổi với VnExpress.net, tiến sĩ sinh học Bùi Văn Lệ, trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM cho biết, gia đình có trẻ nhỏ tốt nhất không nên trồng các loại hoa, cây cảnh. Vì có thể loại hoa cây cảnh đó cực kỳ độc mà bố mẹ không biết. 

Ông nói: “Tốt nhất, các bố mẹ, ông bà, người trông trẻ nên cẩn thận, tuyệt đối không để các bé nghịch, cầm hay cho bất cứ loại lá cây nào vào miệng. Hơn thế, bé có thể nghịch đất trồng trong chậu rất bẩn, dễ nhiễm giun sán. Những loại hoa cây cảnh không chỉ độc với bé mà còn độc với cả người lớn”.
Sau đây là danh sách một số cây cảnh có độc do tiến sĩ Lệ cung cấp, các loài này đều được trồng phổ biến ở Việt Nam:

1. Trúc đào: Tên khoa học là Nerium oleander. Toàn thân Trúc đào đều có chất cực độc Oleandrin, Neriin. Người ta có thể bị ngộ độc do chạm vào cây hoặc nuốt phải. Nhẹ thì gây buồn nôn, ói mửa, tiêu chảy, rối loạn nhịp tim, nặng thì có thể mất kiểm soát cơ thể, hôn mê. Nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.
Việc phơi khô hoặc nấu chín cũng không làm mất tính độc của loài thực vật này. Không trồng trúc đào ở cạnh nguồn nước (giếng ăn, bể nước...) vì lá, hoa trúc đào rụng xuống làm nhiễm độc nước. Trên thế giới đã ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi bị ngộ độc do mủ hoa cây trúc đào.
Hiện nay, trúc đào đang được trồng rất nhiều ở trên các tuyến phố, vườn hoa, nơi công cộng.
2. Thơm ổi: Tên khoa học là Lantana spp. Quả có chất độc Lantanin alkaloid Hoặc lantadene A gây bỏng rát đường ruột, giãn cơ, rối loạn tuần hoàn máu và có thể dẫn đến tử vong.

3. Ngoắt nghẻo: Tên khoa học là Gloriosa superba. Củ và hạt cây có chất kịch độc Colchicine và một số alkaloid khác mà nếu ăn vào sẽ gây tê lưỡi, làm cho cơ thể mất cảm giác, nặng thì hôn mê và nếu không xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.

4. Cà độc dược, một số loại cà kiểng, hoa Lưu ly: Tên khoa học là Datura metel, thuộc họ cà Solanaceae. Tiếp xúc qua da với bất kì vị trí nào trên cây đều có thể gây nổi mẩn đỏ, ngứa, chóng mặt, nhức đầu, thấy ảo giác, hôn mê và có thể gây mù mắt hoặc tử vong.
Cũng chính nhờ độc chất có trong hoa lá thân cây, mà cà độc dược còn được dùng làm thuốc, nếu dùng với liều khống chế, có thể chữa ho hen, say sóng, trị mụn nhọt.

5. Đỗ Quyên: Tên khoa học là Rhododendron occidentale. Tất cả các bộ phận của cây đều có chất độc AndromedotoxinArbutin glucoside. Người bị ngộ độc do loại cây này thường có triệu chứng buồn nôn, chảy nước dãi, ói mửa, uể oải, chóng mặt, khó thở, mất cân bằng. Một lượng 100 đến 225 gram lá Đỗ Quyên đủ để gây ngộ độc nặng cho trẻ em 25 kg.

6. Thiên điểu: Tên khoa học là Strelitzia reginae. Hoa và hạt của cây có các chất gây ngộ độc đường ruột. Tiếp xúc hoặc ăn hoa, hạt sẽ khiến buồn nôn, tiêu chảy, chóng mặt.

7. Môn kiểng: Tên khoa học là Caladium hortulanum. Tất cả các bộ phận của cây đều có chất độc Calcium oxalate và Asparagine Khi ăn phải sẽ dẫn đến nguy cơ bị bỏng, ngứa rát vùng miệng, niêm mạc ruột.

8. Hoa loa kèn Arum/ Ý lan: Tên khoa học là Zantedeschia aethiopica. Lá và củ cây đều có chất độc đường ruột Calcium oxalate. Khi ăn phải loại thực vật này có thể bị ói mửa, bỏng rát bề mặt niêm mạc.

9. Xương rồng bát tiên: Tên khoa học là Euphorbia milii splendens. Nhựa cây gây bỏng rát da khi tiếp xúc.

10. Anh Thảo: Tên khoa học là Cyclamen persicum. Củ cây có chất độc Alkaloids gây khó tiêu, tiêu chảy, ói mửa nếu ăn phải.

11. Chuỗi ngọc: Tên khoa học là Sedum morganianum: Tất cả các bộ phận có chất Glucosides gây mệt mỏi, khó thở, tiêu chảy nếu ăn phải.

12. Môn lá lớn: Tên khoa học là Colocasia spp Tất cả các bộ phận trên cây đều chứa chất Calcium oxalate Asparagine gây ngứa và bỏng rát cổ họng, tiêu chảy nếu ăn phải.

13. Hồng môn: Tên khoa học là Anthurium spp. Tất cả các bộ phận của cây đều có độc tố Calcium oxalate và Asparagine Việc ăn phải loại thực vật này có thể gây bỏng rát vùng họng, dạ dày và ruột.

14. Dạ lan (tên khoa học là Hyacinth orientalis). Củ Dạ Lan có độc tố Alkaloid gây vọp bẻ, đầy bụng, buồn nôn, tiêu chảy nếu ăn phải.

15. Cẩm tú cầu: Tên khoa học là Hydrangea macrophylla. Lá và củ cây có chất Hydragin-cyanogenic glycoside gây tiêu chảy, ói mửa, thở gấp.

16. Xương rồng kiểng: Tên khoa học là Euphorbia trigona. Nhựa cây Có thể gây bỏng da và mắt nếu tiếp xúc, gây tê cứng lưỡi và miệng, nôn mửa nếu ăn phải.
  
17. Thủy tiên: Tên khoa học là Narcissus spp. Củ của cây có chất Alkaloids gây chóng mặt, buồn nôn, tiêu chảy, run rẩy toàn thân, hôn mê, có thể dẫn đến tử vong khi ăn phải.

18. Một số loại trầu (Trầu bà, Trầu ông,...): Có tên khoa học là Philodendron spp. Lá và thân cây có chất độc Calcium oxalate gây tiêu chảy, buồn nôn, bỏng rát niêm mạc miệng khi ăn phải.


19. Tulip: Tên khoa học là Tulipa spp. Củ cây có chất Tulipene, ăn phải sẽ gây chóng mặt, buồn nôn.

20. Lục bình: Tên khoa học là Eichhornia crassipes. Tất cả các bộ phận của cây đều có độc gây chứng ăn không tiêu, ói mửa trên chó, mèo và một số vật nuôi khác khi ăn phải.


21. Huệ Lili: Tên khoa học là Hippeastrum puniceum. Củ cây có chất độc Lycorine gây tiêu chảy, buồn nôn, ói mửa khi ăn phải. Nhựa cây có thể gây nôn mửa nếu ăn phải. Tránh tiếp xúc trực tiếp với da vì có thể gây bỏng rát, ngứa...


22. Ngô đồng: Tên khoa học là Jatropha podagrica. Toàn thân cây, đặc biệt là củ và hạt có chứa chất độc Curcin gây chóng mặt và buồn nôn nếu ăn phải.

Ngoan Ngoan
Việt Báo (Theo_VnExpress.net)