Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật in. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ thuật in. Hiển thị tất cả bài đăng

28 thg 9, 2010

Quản lý màu sắc - Phần 2


II. Soft Proofing

1. Photoshop là một thiết bị vào-ra

Trong Quản lý màu sắc, Photoshop được coi là một thiết bị đặc biệt: vừa để nhập dữ liệu, vừa để xuất dữ liệu. Vì vậy, không gian màu của Photoshop chính là không gian màu làm việc của nó (Photoshop's working space) và có tác dụng y hệt không gian màu của các thiết bị khác.


Photoshop được coi là một thiết bị (Device)

Chính vì vậy, mỗi khi mở một hình trong Photoshop, nếu profile của hình ảnh không trùng với Photoshop, ta nhận được hộp thoại "Profile Mismatch". Tiếp theo, dữ liệu sẽ được chuyển đổi thêm một lần nữa để xuất ra màn hình. Toàn bộ quá trình được tóm tắt như sau:


Cũng tương tự như vậy, khi bức hình được in ra, dữ liệu hình ảnh sẽ được chuyển đổi qua không gian màu trung gian, rồi mới chuyển tiếp qua không gian màu máy in. Quá trình này hoàn toàn độc lập với quá trình xuất hình ra màn hình:

Quá trình xuất hình ra máy in và ra màn hình là hoàn toàn độc lập với nhau

2. Ý tưởng "Soft Proofing"
Soft Proofing là cách sử dụng màn hình để xem trước (preview) hình ảnh sẽ trông như thế nào sau khi xuất ra các thiết bị đầu ra, chủ yếu là máy in. Ý tưởng rất đơn giản: "giả vờ" dữ liệu đã được xuất ra thành dữ liệu máy in, nhưng ta không gửi tín hiệu tới máy in để in hình. Thay vào đó, ta xuất tiếp dữ liệu ngược lại vào màn hình.


Xuất dữ liệu máy in ngược trở lại màn hình, ta có thể xem trước hình ảnh khi in trông như thế nào

Tại sao lại dùng Soft Proofing?
Câu trả lời rất đơn giản. Do đặc điểm không gian màu của máy in thường rất nhỏ so với các thiết bị đầu vào khác, khi xuất hình ra máy in, các dữ liệu hình ảnh không thể hiện được (out of gammut) sẽ bị chuyển đổi hay cắt bỏ. Kết quả là hình bị mất chi tiết và có thể có màu "xỉn xỉn". Với chức năng Soft Proofing, ta có thể "tiên đoán" hình ảnh sẽ trông như thế nào khi in ra, từ đó có sự điều chỉnh hợp lý để có kết quả ưng ý nhất.

3. Sử dụng chức năng Soft Proofing thế nào
Chú ý: để sử dụng chức năng này, coi như tất cả các thiết bị từ màn hình đến máy in đều đã được cân chỉnh.

Chuẩn bị
Giả sử ta đã tới nhà in và xin được file Color profile của máy in của họ. vd bác kantruong, trong topic http://www.vnphoto.net/forums/showth...2999#post62999 đã xin được profile http://kythuatin.com/downloads/Offse...K85_V25PO4.zip

Bung file này ra và copy các file icc (trong trường hợp này là các file OffsetEuro U360 K85 V25PO4.icc và OffsetEuro U385 K85 V25PO4.icc) vào folder C:\WINDOWS\system32\spool\drivers\color

Tiếp theo, trong Photoshop, vào View/Proof Setup/Custom... để mở hộp thoại Customize Proof Condition
 


Trong hộp thoại này, set các giá trị như sau
-Nếu không muốn bị "bất ngờ" thì bỏ đánh dấu phần "Preview". Lý do vì sao, làm thử sẽ biết :)
-Device to simulate: chọn profile của máy in mà ta cần giả lập. trong trường hợp này, chọn OffsetEuro U360 K85 V25PO4
-Rendering Intent: chon Perceptual. Đây là một trong 4 phép xử lý dữ liệu khi convert ảnh. chi tiết về phần này xem thêm bên Quản lý màu sắc.
-Đánh dấu Black Point Compensation
-Các phần Simulate Paper Color và Simulate Black Ink có thể chọn, tùy theo mình có muốn giả lập giấy và mực in hay không.

Sau đó click vào Save... và đặt tên theo ý thích. Trong trường hợp này là "gia lap OffsetEuro U360"
Cuối cùng, rất quan trọng, click vào Cancel để thoát ra.


Bắt đầu giả lập
Vào View/Proof Setup/ và click vào tùy chọn mình vừa tạo. trong trường hợp này là View/Proof Setup/gia lap OffsetEuro U360

Chú ý: đặt chuột vào tùy chọn này, nhắm mát lại, quay đi chỗ khác khoảng 10 giây trở lên, rồi click, sau đó mới quay lại. Nếu không, sẽ bị "choáng" màu

Máy in offset chỉ có 4 màu, nên không gian màu của nó rất nhỏ, in ra ảnh có màu sắc rực rỡ như trên màn hình máy tính hay hình từ máy in mực là điều không tưởng. Vì thế, khi "proofing", nếu không nhìn ra chỗ khác, ta sẽ nhận thấy sự thay đổi quá rõ rệt và có cảm giác hình "không đẹp"


Sau khi click, phần Proof Colors sẽ được tự động đánh dấu. Nếu không, vào View/Proof Colors hoặc nhấn Ctrl+Y để xem những phần nào bị "Out of gammut", chọn View/Gammut Warning hoặc nhấn Ctrl+Shift+Y
Nếu thấy xuất hiện những vệt màu xám trên ảnh: màu sắc ở những vùng đó là màu mà máy in không thể in được, hay nói cách khác, "out of the printer's gammut"


Bằng cách bật Soft Proof và Gammut Warning, ta có thể biết được những vùng ảnh nào cần sửa chữa lại cho phù hợp, để khi in ra, không bị mất chi tiết. Ví dụ, giảm độ đậm màu (saturation) xuống đến khi những vệt xám ở những phần quan trọng biến mất. Hoặc kết hợp với công cụ chọn (Selection Tools) để chỉ sửa chữa những phần xám đó mà vẫn giữ nguyên độ đậm màu ở những vùng không bị "out of gammut". Ngược lại, cũng có thể tăng độ đậm màu ở những vùng còn lại để khi in ra ảnh được tươi hơn. Các bước edit này nên làm với Adjustment Layers, tránh làm việc trực tiếp trên ảnh, vì mỗi máy in mỗi khác, từ đó, việc điều chỉnh ảnh cho phù hợp với mỗi máy in cũng rất khác nhau.

Nên nhớ, việc Soft Proofing không phải để tìm cách xuất ra ảnh với tất cả các chi tiết, màu sắc của bức ảnh. Tất cả các thiết bị đều khác nhau, nên điều đó là khôgn tưởng. Nhưng điều quan trọng là, dùng Soft Proofing để biết trước giữ lại được những chi tiết quan trọng của tấm hình trước khi in ra, và tránh không bị sốc khi nhìn thấy ảnh in ra quá khác so với những gì mình muôn/tưởng tượng.

25 thg 9, 2010

Quản lý màu sắc - Phần 1

Bài sưu tầm của bạn TeddyLoves - Thành viên của trang "http://www.vnphoto.net/forums/showthread.php?t=6063"

Soft Proofing

Bài này hơi nhiều chữ, các bác chịu khó đọc nha. Sẽ cố gắng add hình & format lại thật sớm, cho dễ hiểu hơn.


Tất cả các bài viết đều dựa trên các cuốn "Real World Color Management" - Bruce Fraser, Chris Murphy, & Fred Bunting, "Understanding Color Management" - Abhay Sharma, "Color Management for Photographers" - Andrew Rodney, và kiến thức thu lượm đươc từ internet.


I. Tóm tắt về Quản lý màu sắc


1. Đặt vấn đề
Tất cả các thiết bị đều khác nhau. Lý do thì nhiều: do khâu quản lý chất lượng khi sản xuất, do khâu bảo quản, hay do thời gian. Để ý các màn hình cũ đều tối hơn, các tấm pano quảng cáo hay các tấm ảnh để lâu ngày sẽ bị phai màu. Điều này áp dụng cho tất cả các thiết bị từ đầu vào (camera, scanner...) đến thiết bị đầu ra (monitor, printer...).


Để dễ hình dung, tưởng tượng mỗi nước đều có một hệ thống kinh tế khác nhau, dẫn đến mỗi nước đều có đồng tiền riêng của mình. Và như vậy, cùng một mặt hàng, cùng một giá trị, nhưng mỗi nơi một khác. Ví dụ, 1 máy ảnh có giá bán ở Nhật 100,000 Yên, thì ở Mỹ có giá 856USD, ở Anh có giá 459 Pounds, ở Việt Nam lại có giá 13,752,085 đồng.

Tương tự như vậy, một chiếc mũ đỏ, khi được chụp qua máy ảnh số của Canon, 1 điểm ảnh có thể được ghi lại với giá trị RGB tương ứng là 180,15,30 trong khi cùng một điểm ảnh đó, máy Nikon lại ghi lại là 175,22,28. Cũng cùng điểm đó, máy in Epson có khi lại in ra thành 178, 25,31. Một máy in Epson khác, cùng model, có khi lại in ra thành 179,24,33. Tại sao lại có sự khác nhau như vậy? Tại vì tất cả các thiết bị đều khác nhau.



Digital Camera. Price: ¥100,000Yen / $856USD / £459GBP / VND13,752,085


2. Không gian màu (Color Spaces)
Màu sắc phụ thuộc thiết bị
Ta đi du lịch ở Nhật, vào tiệm mua 1 chiếc máy ảnh. Khi người chủ nói "máy ảnh này giá một trăm ngàn" thì ta hiểu rằng đó là 100,000 Yên. Ngược lại, nếu vào tiệm BH ở New York, người bán hàng nói "máy ảnh này giá 856 đô" thì ta hiểu rằng đó là 856USD. 856USD có khác 100,000 Yên không? Tất nhiên là không. mặc dù con số thì khác, nhưng cuối cùng ta vẫn mua được cùng 1 loại máy ảnh đó. Ta nói, giá cả phụ thuộc từng nước ("giá cả" - price nhé, không phải "giá trị"- value), hay nói đúng hơn là từng hệ thống tiền tệ. Không có gì sai khi mà ta ở SG, và khoe với bạn là vừa mua ở tiệm Khánh Long chiếc máy ảnh trên với giá 856USD thay vì 13 triệu. Cùng một màu trên 1 chiếc mũ, máy Canon bảo "180,15,30" trong khi máy Nikon bảo "175,22,28". Ta nói, những giá trị màu sắc này là những giá trị màu sắc phụ thuộc từng thiết bị.


Màu sắc không phụ thuộc thiết bị
Vì mỗi nước có một hệt thống tiền tệ khác nhau, việc mua bán, trao đổi, xuất-nhập khẩu gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, các nước trong khối liên minh Châu Âu dần dần đã chuyển sagn dùng đồng tiền chung (chuẩn), gọi là đồng Euro. Giá trị của đồng tiền nay không thay đổi khi được dùng ở các nước châu Âu, và cũng không thay đổi nếu nó được mang vào Anh hay vào Mỹ. Tương tự như vậy, để tiện giao dịch, đồng USD được quy ước là đồng tiền chuẩn trong giao dịch xuất-nhập khẩu giữa các nước. Lúc này ta nói, giá trị đồng USD không phụ thuộc từng nước.

Đối với các thiết bị vào-ra, để có "tiếng nói chung" như vậy, người ta sử dụng các thiết bị đo đạc với độ chính xác cực cao, đo các giá trị màu "chuẩn" và tạo nên một không gian màu "chuẩn". Thực ra cũng có vài không gian màu "chuẩn" như vậy nhưng được dùng nhiều nhất là CIE 1976 L*,a*,b* viết tắt là LAB.

Nói tóm lại, bất kỳ một màu nào, dù được ghi lại hay hiển thị bởi bất kỳ thiết bị nào, khi đối chiếu với giá trị LAB, đều có chung một giá trị duy nhất không thay đổi. Cũng giống như một máy Canon 300D khi mới ra đều có giá 999USD ở bất cứ nơi nào trên thế giới.


3. Device Profiles
Hình dung, một nhóm người gồm Anh, Úc, Trung Quốc, Canada, Việt Nam, Nhật Bản đi du lịch ở Tanzania. Khi đặt chân xuống sân bay, họ vào một tiệm bán đồ lưu niệm. Nếu mỗi người đều mua hàng bằng tiền từ nước mình, người bán hàng sẽ rất mất thời gian kiểm tra tỉ giá và tính toán giá cả. Thay vì đó, anh ta chỉ đề giá bằng tiền USD, và tất cả mọi người đều đổi tiền của nước mình ra tiền USD rồi mua hàng. Như vậy người bán hàng tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tránh sai sót. Đồng thời, người mua cũng có thể so sánh với nhau bằng tiền USD, thay vì quy đổi giá trị của món hàng từ tiền của nước mình sang tiền của các nước còn lại.

Tương tự như vậy, giống như mỗi nước có một đồng tiền, dùng để định nghĩa giá trị của mỗi món hàng trong nước đó, thì mỗi thiết bị đều có một profile riêng. Profile này cho ta biết giá trị thực của mỗi điểm ảnh - hay nói cách khác, mỗi điểm ảnh đó tương đương với màu sắc nào.
Khi trao đổi dữ liệu giữa các thiết bị, vì các thiết bị không giống nhau, việc chuyển đổi sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy cách dễ nhất là chuyển đổi dữ liệu gốc sang một dạng chuẩn, rồi lại chuyển tiếp từ dữ liệu chuẩn đó thành dữ liệu đích.

Trong ví dụ đầu tiên, một máy ảnh ở Nhật có giá 100,000 Yên, với tỉ giá USD là 116.8, ta chuyển qua tiền USD sẽ thành 856USD. Máy ảnh đó ở Việt Nam có giá 13,752,085, với tỉ giá USD là 16,065, ta chuyển qua tiền USD sẽ thành 856USD.

Nhờ có các tỉ giá USD trên, ta hiểu được giá trị của đồng Yên & đồng VND tính theo USD. Cũng tương tự như vậy, nhờ có Device Profiles, ta hiểu được giá trị của các điểm ảnh của từng thiết bị tính theo không gian LAB - không gian màu chuẩn & không phụ thuộc thiết bị.

Canon --> 180,15,30 --> Canon's Device Profile --> 45,53,0
Nikon --> 175,22,28 --> Nikon's Device Profile --> 45,53,0
Epson1 --> 178,25,31 -->Epson1's Device Profile --> 45,53,0
Epson2 --> 179,24,33 -->Epson2's Device Profile --> 45,53,0

Khi các điểm ảnh này được thể hiện trên các màn hình LCD của Apple:
45,53,0 --> Apple1's Device Profile --> 179,20,30
45,53,0 --> Apple2's Device Profile --> 179,25,19
45,53,0 --> Apple3's Device Profile --> 181,20,19


Đây chính là ý tưởng cơ bản trong Quản lý màu sắc: dùng profile trung gian để so sánh và convert màu sắc khi chuyển giữa các thiết bị.

Sau khi hiểu được điều này, Soft Proofing sẽ đơn giản như 1+1=2 vậy :)


Trong hình trên, không gian màu chuẩn CIELAB đóng vai trò là trạm trung chuyển giữa các thiết bị, và được gọi là Profile Connection Space. Tưởng tượng nó giống như một nút giao thông quan trọng - sân bay Hong Kong chẳng hạn. Tất cả các chuyến bay từ các nước trong khu vực ra các nước khác đều transit qua nơi này. Ví dụ Việt Nam -->; Mỹ thực ra là Việt Nam -->; Hong Kong -->; Mỹ, Singapore -->; Italia thực ra là Singapore --->; Hong Kong -->; Italia.
Còn tiếp...

7 thg 7, 2010

Tối ưu hình ảnh CMYK cho in Offset 4

  • Sử dụng Action List của Enfocus Pitstop Pro 7.x (8.x): 
Trước hết kích hoạt chức năng Color Management của Enfocus Pitstop. 
- Khởi động Adobe Acrobat 9 Pro. 
- Chọn Edit -> Preferencies -> Enfocus Pitstop Pro. -> Preferencies (bấm Alt + Ctrl + K) .
Chọn Use Other Settings for Images than for other objects. 
Chọn Enable Color Management cho Images (không chọn Enable Color Management cho Other Objects). 
 
Source :
      Gray : Generic Enfocus Gray
      RGB : Adobe RGB 1998
      CMYK : TIFF_CMYK.icc
      Lab : Generic Enfocus Lab 
 
Target : chọn Use other ICC Profile than source
      Gray : Newsprint Gray
      RGB : Adobe RGB 1998
      CMYK : Newsprint U240 K98.icc
      Lab : Generic Enfocus Lab 
CMM engine : System CMM 
Rendering Intent: Relative Colorimetric 

Thiết lập quản trị màu cho Enfocus Pitstop
Hình 9: Thiết lập quản trị màu cho Enfocus Pitstop

Tiếp theo, tạo Enfocus Action Lists để thực hiện convert hình ảnh bitmap : 
Bấm Alt + Ctrl + A (Show Enfocus Action List Panel). 
Chọn Local Action List + Manager + New. 
Cửa sổ Enfocus Action List Editor hiện ra : 
Đặt tên Action List Name: Convert Images to CMYK for Newsprint 
Bấm chuột vào dấu + để thiết lập các tác vụ cần thực hiện. 
Cửa sổ New Action Type For Action List hiện ra. 

Trong Actions, chọn và bấm Add các tác vụ với số lần (n) như sau : 
      . Select Images type (4) 
      . Tag object with an ICC profile (2) 
      . Select by ICC tag subtype (1) 
      . Remove ICC tag (1) 
      . Select by ink coverage (1) 
      . Convert color (2) 
      . AND (2) 

Đóng cửa sổ New Action Type For Action List trở về cửa sổ Enfocus Action List Editor. 
      . Đổi các tác vụ Select 1-bit images thành Select color images 
      . Chọn Tag object with an ICC profile cho RGB Images là Adobe RRB 1998.icc
      . Chọn Tag object with an ICC profile cho  CMYK images là CMYK_Source.icc. 
      . Chọn Select by ICC tag subtype và đánh dấu chọn Fill color space = ICC tagged RGB. 
      . Chọn Select by ink coverage more than 260% (include images…) 
      . Chọn Convert color to CMYK (Apply to Fill Color & stroke color) 

Sắp xếp trình tự thực hiện các tác vụ như sau (sử dụng các ô tam giác di chuyển Up & Down)
      . Select color images 
      . Tag with ICC Profile Adobe RGB 1998 
      . Select color images  
      . Select by ICC tag subtype (Fill color space = ICC tagged RGB) 
      . AND 
      . Convert color to CMYK 
      . Select color images . Remove ICC tag 
      . Select color images 
      . Select by ink coverage (more than 260%) 
      . AND 
      . Tag with ICC Profile TIFF_CMYK.icm 
      . Convert color to CMYK 

Tạo Enfocus action list tối ưu hình ảnh
Hình 10 : Tạo Enfocus action list tối ưu hình ảnh
 
(6 tác vụ đầu để convert RGB images sang CMYK images. 7 tác vụ sau để chuyển đổi các hình ảnh CMYK có độ phủ mực CMYK tối đa cao hơn 260% còn 240%).  

+ Bấm OK để hoàn tất việc tạo Action list. 
  
Mở các file PDF, bấm Alt+Ctrl+A và chọn Convert Images to CMYK for Newsprint + Run trong Local Action Lists để tối ưu các hình ảnh CMYK

Tối ưu hình ảnh CMYK cho in Offset 3

Một số tồn tại trong việc tạo và tách màu hình ảnh CMYK cho in ofset tại Việt Nam

Ở Việt Nam, khi thiết kế, tạo mẫu in offset nhiều người không lưu ý đến vấn đề tối ưu hóa chất lượng hình ảnh CMYK phù hợp với các điều kiện in, đặc biệt là cho lĩnh vực in báo trên máy in offset cuộn. Hình ảnh in trên các tạp chí cao cấp (in giấy Couché trên máy in tờ rời hay máy in cuộn heat-set) và in trên các giấy in báo (máy in cuộn) được tạo ra và tách màu ghi bản (ghi phim) giống nhau.

Việc cập nhật những thông tin mới nhất về các tiêu chuẩn in cũng như sự thay đổi về công nghệ chế bản, về vật tư in (giấy, mực…) không được thường xuyên. Kết quả là hình ảnh được tạo ra có độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh thường rất cao, khi in chồng màu lớp mực quá dày nên tờ in lâu khô, dễ bị lem hoặc bị dặm mực, dính mực…  Riêng đối với lĩnh vực in báo cuộn, tờ in nhiều mực quá rất dễ bị rối giấy ở đầu gấp, phải giảm tốc độ in. Nhiều trường hợp không dùng được giấy định lượng 45gr/m2 mà phải đổi sang giấy định lượng dày hơn (48gr/m2). Hư hao giấy, mực nhiều. Tăng chi phí vật tư. 

Một số vấn đề cụ thể liên quan đến kỹ thuật chế bản dẫn đến tình trạng trên:
- Ở những nơi có sử dụng máy quét ảnh cao cấp (scanner hay camera), hình ảnh được quét và chuyển đổi thành CMYK bởi các phần mềm quét ảnh chuyên dụng nhưng các thông số thiết lập để phân màu là theo kiểu tạo màu đen in bổ trợ (kể cả sử dụng ICC-Profiles nhưng không phải là các ICC-Profiles được tạo ra theo tiêu chuẩn mới), không sử dụng UCR hay GCR. Kết quả là ở vùng tối của hình ảnh tổng lượng mực phủ tối đa đều rất cao (kiểm tra thông số trên file > 350%).
 
- Phổ biến nhất hiện nay đối với các ấn phẩm báo và tạp chí là hình ảnh màu được quét từ các máy quét để bàn (máy quét văn phòng) hoặc chụp từ máy ảnh kỹ thuật số, thậm chí là bằng điện thoại di động. Hình ảnh quét ra hoặc sau khi chụp ở không gian màu RGB, sau đó sử dụng phần mềm Adobe Photoshop chuyển thành CMYK. Việc chuyển đổi đơn giản chỉ là đổi Mode màu từ RGB thành CMYK. Các thiết lập quản trị màu (Color Setting) là mặc định như khi vừa cài đặt chương trình, không được chọn lại theo các chuẩn mực chế bản in offset. Chức năng Convert to Profile hầu như rất ít người biết và áp dụng. Hình ảnh CMYK tạo ra theo cách này phù hợp cho in tờ rời (giấy Couché và Couché Matt), không phù hợp cho in báo cuộn.
 
Để giải quyết vấn đề trên, có nhiều giải pháp và có thể thực hiện ở nhiều công đoạn hay vị trí công việc khác nhau trong các quá trình chế bản, từ khách hàng đến nhà in : 

- Sử dụng các ICC Profile thích hợp khi quét và xử lý hình ảnh.
- Sử dụng các ICC Profile thích hợp khi tạo file PDF.
- Sử dụng các ICC Profile để tối ưu hình ảnh trên các file PDF trong quá trình preflight  (tối ưu file PDF cho chế bản tách màu).
- Sử dụng chức năng quản trị màu và các ICC Profile trên RIP để tạo các bản in tách màu.
Sau đây xin giới thiệu giải pháp tối ưu hình ảnh trong các file PDF trước khi bình trang điện tử và tách màu trên RIP.

1. Sử dụng các ICC Profiles tối ưu hình ảnh trong file PDF.   
Hiện nay, các hệ thống chế bản tại nhiều nhà in làm việc chủ yếu trên dữ liệu PDF. Để đảm bảo chất lượng tờ in và hiệu quả sản xuất, chúng ta có thể thực hiện việc tối ưu hóa hình ảnh trong file PDF trước khi bình trang điện tử và tách màu trên RIP. Hình ảnh trong các file PDF được tạo ra có thể là RGB hoặc CMYK có thể đã hoặc chưa đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng in. Nhiệm vụ của nhân viên chế bản là chuyển đổi các hình ảnh trong file PDF thành hình ảnh CMYK nhằm tối ưu lượng mực in sử dụng đồng thời giúp cải thiện chất lượng in tốt nhất có thể. 

Các mục tiêu khi tối ưu hình ảnh trong file PDF bao gồm: 
- Giảm tổng lượng mực in chồng 4 màu tối đa phù hợp với các tiêu chuẩn in offset nhằm giảm bớt hiện tượng hình ảnh in ra lâu khô dẫn đến bị quệt lem, bị dặm mực; đồng thời giúp tiết kiệm mực in, tăng năng suất in. 
- Giúp truyền mực tối ưu khi in chồng màu.  
- Tăng độ tương phản, độ sắc nét của hình ảnh khi in. 

Các yêu cầu khi thực hiện tối ưu hình ảnh trong file PDF: 
- Chỉ tác động lên các đối tượng là hình ảnh quét hay chụp có tổng lượng mực in chồng tối đa vượt quá tiêu chuẩn (không tác động lên text & graphic). 
- Chỉ thay đổi các giá trị phần trăm tram 4 màu ở vùng tối. Phần màu của hình ảnh không thay đổi hoặc thay đổi rất ít, đặc biệt màu sắc logo, măng-sét (quan sát hình ảnh sau khi chuyển đổi hoặc quan sát tờ in không phát hiện được sự thay đổi màu sắc).
  • Hướng dẫn thực hiện : 
Giả sử cần tối ưu các hình ảnh màu bitmap để in báo với yêu cầu (tiêu chuẩn) là độ phủ mực in chồng CMYK ở vùng tối cao nhất là 260%.  

+ Công cụ sử dụng là các phần mềm chạy trên các hệ điều hành Windows bao gồm: 
- Phần mềm Adobe Acrobat Pro 
- Enfocus Pitstop Pro. 
- Prinect PDF Toolbox.  

+ Các ICC Profile cần có : 
- AdobeRGB1998.icc : Gán cho các ảnh màu RGB 
- TIFF_CMYK.icc : Mô tả không gian màu hình ảnh CMYK gốc trước khi tối ưu (có thể chọn các ICC Profile tương ứng với việc in hình ảnh CMYK trên giấy Couche của GRACoL, SWOP, ECI)  
-  Newsprint U240 K98.icc : ICC Profile được tạo ra cho in báo có độ phủ mực in chồng CMYK ở vùng tối cao nhất là 240%, trong đó giá trị K = 98%.
  • Sử dụng chức năng Preflight của Adobe Acrobat 9 Pro : 
Trước hết cần copy các ICC Profiles trên vào C:\WINDOWS\system32\spool\drivers\color. 
Tiếp theo, tạo một Preflight Profile (PDF Fixup) để tối ưu hình ảnh CMYK, ví dụ : Convert to CMYK Images for Newsprint 
- Chọn Advanced - > Preflight (bấm tổ hợp phím Shift + Ctrl + X).  
- Chọn Option-> Create New Preflight Profile  

Đặt tên (Name) : Convert to CMYK for Newsprint thuộc nhóm (Group) PDF Fixups. 
- Chọn Fixups và tạo New Fixup (bấm chuột vào dấu +), đặt tên là Convert to CMYK for Newsprint. 
Cửa sổ Preflight: Edit Fixup hiện ra.
Chọn Fixup Category = Color spaces, spot colors, Inks 
Chọn Type of fixup = Convert colors.  

Destination :
chọn ICC Profile là Newsprint U240 K98
bỏ đánh dấu ô Use Destination Profile from output Intent if present 
Embedding: Do not embed  

Assumed profiles :       
chọn RGB = Adobe RGB (1998);
chọn CMYK = TIFF_CMYK.icm 
Đánh dấu các lựa chọn Use Black Point Compensation & Preserve Black Objects. 

Conversion settings:
      Objects: Color images
      Conversion : Convert to destination
      Rendering intent: Relative colorimetric  

Bấm OK hoàn tất việc thiết lập Preflight.

Tạo PDF Fixup tối ưu hình ảnh
Hình 8 : Tạo PDF Fixup tối ưu hình ảnh
Thực hiện tối ưu hình ảnh CMYK cho in báo:
Mở các file PDF, chọn Preflight (Shift + Ctrl + X.
Chọn Convert to CMYK for Newsprint trong PDF Fixup  
Thực hiện Analyze and Fix.

4 thg 7, 2010

Tối ưu hình ảnh CMYK cho in Offset 2

II. Tạo và tách màu hình ảnh theo các ICC output profile

Hiện nay, việc sử dụng các ICC Profile để chuyển đổi không gian màu hình ảnh sang CMYK trong quá trình quét và xử lý hình ảnh (tạo file hình ảnh CMYK) đã tương đối phổ biến và trở thành tiêu chuẩn. Đối với quá trình tách màu trên RIP thì chức năng quản trị màu và tách màu theo các ICC Profiles vẫn là một lựa chọn cộng thêm (option) và ít được sử dụng nhưng chắc chắn sẽ trở thành tiêu chuẩn và phổ biến trong một tương lai gần vì khả năng tự động hóa và chất lượng các ICC output Profile tạo ra ngày càng tốt hơn. 

Các ICC Profiles chứa các thông tin mô tả không gian màu hiển thị hình ảnh, bao gồm cả cách mà hình ảnh sẽ được hiển thị thế nào và kết quả hiển thị ra sao. Khi hình ảnh chuyển từ không gian RGB sang CMYK theo các ICC Profiles, tùy thuộc vào dữ liệu mô tả không gian màu hiển thị đo được và phương pháp cũng như các thông số thiết lập để tạo ICC output Profile là tổng hợp màu hữu sắc (Chromatic Reproduction, UCR) hay tổng hợp màu vô sắc (Achromatic Reproduction, GCR) hoặc kết hợp UCR/GCR (UCA) sẽ tạo ra các giá trị màu CMYK tương ứng.
Ảnh CMYK với kỹ thuật UCR
Hình 6: Ảnh CMYK với kỹ thuật UCR
Để chuyển đổi hình ảnh sang CMYK có thể sử dụng các ICC output Profiles mới nhất của các tổ chức, hiệp hội in quốc tế như ICC, ECI, GRACoL, SWOP, IFRA, JIS… tạo ra cho từng phương pháp in, loại giấy in, loại bản in, loại tram in áp dụng (thông tin chi tiết hoặc tải các ICC-Profiles này xin truy cập các trang www.eci.org, www.idealliance.org, www.ifra.com; www.naa.org; www.color.org...). Ngoài ra, cũng có thể sử dụng các ICC profiles của các hãng như: Kodak, Heidelberg, AGFA, Toyo ink, Fujifilm,…  

Ảnh CMYK với kỹ thuật GCR
Hình 7 : Ảnh CMYK với kỹ thuật GCR
 
  • Các ICC-Profiles cho in offset tờ rời và in offset cuộn sấy nhiệt của ECI, GRACoL, SWOP (ISO 12647-2 : 2004) 
- GRACoL2006_Coated1 v2 ; U.S. Sheetfed Coated v2 (SWOP); ISO Coated v2 (ECI):  
Tạo hình ảnh CMYK in trên giấy Couché và Couché Matt (giấy tráng phủ loại 1 và loại 2 theo ISO 12647-2), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 330% (Kmax = 95%), bản in PS dương (positive plate), tram in AM (150 dpi – 175 dpi).  

- PSO Coated NPscreen ISO12647 (ECI) 
Tạo hình ảnh CMYK in trên giấy Couché và Couché Matt (giấy tráng phủ loại 1 và loại 2 theo ISO 12647-2), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 330% (Kmax = 98%), bản in PS dương (positive plate), tram in FM (21µm).  

- ISO Coated v2 300% :  
Tạo hình ảnh CMYK in trên giấy Couché và Couché Matt (giấy tráng phủ loại 1 và loại 2 theo ISO 12647-2), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 300% (Kmax = 95%), bản in PS dương (positive plate), tram in AM (150 dpi – 175 dpi).  

- PSO Coated 300% Npscreen ISO12647 (ECI) 
Tạo hình ảnh CMYK in trên giấy Couché và Couché Matt (giấy tráng phủ loại 1 và loại 2 theo ISO 12647-2), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh 300% (Kmax = 98%), bản in PS dương (positive plate), tram in FM (21µm).  

- ISO Web Coated (ECI) , U.S. Web Coated v2 (SWOP):  
Tạo hình ảnh CMYK in trên giấy Couché mỏng (giấy Light Weight, định lượng ≤ 60 gr/m2), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 300% (Kmax = 100%), bản in PS dương (positive plate), tram in AM (150 dpi – 175 dpi)  

- ISO Uncoated (ECI), U.S. Sheetfed Uncoated v2 (SWOP) 
Tạo hình ảnh CMYK in trên các loại giấy không tráng phủ trên máy in tờ rời, độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 320% (Kmax = 100%), bản in PS dương (positive plate), tram in AM (120 dpi – 133 dpi).  

- PSO Uncoated NPscreen ISO12647 (ECI)  
Tạo hình ảnh CMYK in trên các loại giấy không tráng phủ trên máy in tờ rời, độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 300% (Kmax = 98%), bản in PS dương (positive plate), tram in FM (30µm)  

- ISO Uncoated Yellowish (ECI) 
Tạo hình ảnh CMYK in trên các loại giấy không tráng phủ 120gr/m2 hơi ngả vàng, độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 320% (Kmax = 100%), bản in PS dương (positive plate), tram in AM (133 dpi – 150 dpi).  

- SC Paper (ECI) : 
Tạo hình ảnh CMYK in trên các loại giấy SC (Super calandered paper), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 270% (Kmax = 100%), bản in PS dương (positive plate), tram in AM (150 dpi – 175 dpi).  

- PSO MFC Paper (ECI) 
Tạo hình ảnh CMYK in trên các loại giấy MFC (Machine Finished Coating paper), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh 280% (Kmax = 98%), bản in PS dương (positive plate), tram in AM (133 dpi – 150 dpi).

- PSO SNP Paper (ECI) 
Tạo hình ảnh CMYK in trên các loại giấy báo (Standard Newsprint) trên máy in cuộn heat-set, độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 260% (Kmax = 98%), tram in AM (100 dpi – 120 dpi).
  • Các ICC-Profiles cho in offset cuộn (cold-set) của IFRA, SNAP (ISO 12647-3 : 2004 và ISO 12647-3 : 2005):
- ISOnewspaper26v4.icc ; ICONSnewsper26v5.icc 
Tạo hình ảnh CMYK in trên giấy in báo 45 gr/m2, độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 240% (Kmax = 95%), dotgain tối đa 26%, tram in AM (85 lpi – 100 lpi), bản in PS (positive). 

- ISOnewspaper26v4_gr.icc, ICONSnewsper26v5_gr.icc 
Tạo hình ảnh Grayscale in trên giấy in báo 45 gr/m2, dotgain tối đa 26%, tram in AM (85 lpi – 100 lpi), bản in PS (positive). 

- SNAP2007.icc  :
Tạo hoặc tách màu hình ảnh CMYK để in các quảng cáo trên giấy in báo theo hướng dẫn của SNAP (Specifications for Newsprint Advertising Production). Độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 240% (Kmax = 80%), dotgain tối đa 26%, bản in CTP (positive), tram in AM (85 lpi - 100 lpi).
  • Nhận xét:  
- Khi in trên giấy tráng phủ loại 1 và loại 2 thông thường (giấy Couché và Couché Matt), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 330%, trong đó trị số K từ 95% đến 98%.  

- Khi in trên giấy không tráng phủ trên máy in tờ rời 4 màu, độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 320%, trị số K từ 98% đến 100%.  

- Khi in trên giấy tráng phủ định lượng mỏng (Light weight hay Web Coated), độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 300%, trị số K từ 98% đến 100%.  

- Khi in báo (định lượng 45gr/m2) trên máy in offset cuộn, độ phủ tram tại điểm tối nhất của hình ảnh là 240% (cold-set) và 260 % (heat-set), trị số K = 95% (cold-set) và 98% (heat-set).  

So với trước đây, khi in trên giấy Couché và Couché Matt, độ phủ mực ở vùng tối nhất của hình ảnh đã giảm rất nhiều (trước 2004 là 370%, từ 2004 – 2007 là 350%, từ năm 2007 đến nay là 330%). 

Đối với in báo cuộn, theo tiêu chuẩn 12647-3 : 2004, độ phủ mực in chồng 4 màu CMYK cao nhất là 240% (giấy in báo định lượng 45gr/m2). Trong thực tế, một số hiệp hội in báo đưa ra đề nghị giảm xuống 230% (ví dụ theo  PANPA – Hiệp hội báo chí và xuất bản châu Á – Thái bình dương).  

Mực đen có độ tách dính (tack) & có mật độ (density) cao nhất trong các mực in offset cơ bản nên màu đen được thiết lập có trị số từ 95% đến 100% cho điểm ảnh tối nhất để tăng độ tương phản hình ảnh in ra.

2 thg 7, 2010

Tối ưu hình ảnh CMYK cho in Offset

Tối ưu hình ảnh CMYK cho in ofset việc tạo ra các bản tách màu CMYK phù hợp với từng phương pháp in, loại giấy in, loại mực in, loại tram in, loại bản in sử dụng. Một trong những mục tiêu chính của công việc này là tối ưu mực in (ink optimizing service, ink optimize, ink optimization…) để in phục chế màu hình ảnh. Tối ưu mực in có nghĩa là lượng mực in sử dụng là thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu về chất lượng in. Giải pháp tốt nhất hiện nay để tạo hay tách màu tối ưu hình ảnh là sử dụng các ICC DeviceLink Profile theo các tiêu chuẩn chất lượng in quốc tế và điều kiện in thực tế tại các nhà in.
Nội dung chính trong bài viết này : 
- Khái quát về màu & tổng hợp màu; các giải pháp tách màu UCR, GCR, UCA.
- Tạo và tách màu hình ảnh theo các ICC profile: giới thiệu tóm tắt các ICC profile của các tổ chức chuyên ngành in quốc tế & hướng dẫn áp dụng ICC profile để tối ưu hình ảnh trong file PDF trước khi bình trang, tách màu trên RIP. 

I -  Khái quát về màu và tổng hợp màu

 1. Màu sắc và sự cảm nhận màu sắc.

Về bản chất, màu sắc không phải là thuộc tính của một vật thể, chẳng hạn như hình dạng của nó, mà là thuộc tính của ánh sáng chiếu lên vật thể. Vật thể có khả năng hấp thụ, phản xạ hoặc cho đi qua một phần hay toàn phần ánh sáng tùy thuộc vào tần số (bước sóng) ánh sáng chiếu lên. Màu của vật thể mà chúng ta cảm nhận được chính là phần còn lại của ánh sáng chiếu lên vật thể đi tới mắt.
Khi ánh sáng chiếu lên vật thể, sẽ xảy ra các trường hợp sau : 
- Tất cả ánh sáng đều bị hấp thụ, chúng ta sẽ thấy vật thể là đen.
- Tất cả ánh sáng đều phản xạ, chúng ta thấy vật thể trắng.
- Toàn bộ ánh sáng xuyên qua vật thể, màu của vật thể không thay đổi (trong suốt).
- Một phần ánh sáng bị hấp thụ, phần còn lại phản xạ, chúng ta nhận thấy màu sắc vật thể phụ thuộc vào tần số ánh sáng bị hấp thụ và phản xạ.
- Một phần ánh sáng bị hấp thụ và phần còn lại xuyên qua vật thể, màu sắc của vật thể phụ thuộc vào tần số ánh sáng bị hấp thụ và xuyên qua. 
- Một phần ánh sáng phản xạ và phần còn lại xuyên qua vật thể, màu sắc của vật thể phụ thuộc vào tần số ánh sáng phản xạ và xuyên qua.
Dải quang phổ màu của ánh sáng mà chúng ta nhìn thấy được (ánh sáng khả thị) có bước sóng từ 370 na-nô mét (tia cực tím) đến 780 na-nô mét (tia hồng ngoại). 

Image
Hình 1: Quang phổ ánh sáng nhìn thấy.

2. Các hình thức tổng hợp màu

  • Tổng hợp màu cộng (Additive color composition) :
Đây là hình thức tổng hợp màu dựa trên sự kết hợp của các ánh sáng màu.
Ánh sáng trắng là sự trộn tất cả các ánh sáng màu nằm trong dải quang phổ nhìn thấy, khi chiếu tới lăng kính sẽ được tách thành các ánh sáng màu thành phần mà ta gọi là dải cầu vồng. 
Trong dải quang phổ màu nhìn thấy, 3 ánh sáng màu Red (bước sóng 700nm), Green (bước sóng 550nm), Blue (bước sóng 400nm) gọi là các màu tổng hợp cộng cơ bản (additive primary colors).Kết hợp 3 ánh sáng màu R, G, B với cường độ màu khác nhau sẽ tạo ra vô số màu khác nhau. 

Image
Hình 2: Tổng hợp màu cộng.
  Công thức tổng hợp màu cộng như sau :
     Red + Green = Yellow (Y)
      Red + Blue = Magenta (M)
      Green + Blue = Cyan (C)
      Red + Green + Blue = White (W).
      No light (R = G = B = 0) = Black. 
Màu mới được tạo nên theo tổng hợp màu cộng đều sáng hơn các màu thành phần nên đây còn gọi là tổng hợp màu gia sắc. 
Màu hình ảnh trên màn hình là màu tổng hợp cộng.



  • Tổng hợp màu trừ (Subtractive color composition): 
Với tổng hợp màu trừ, ánh sáng chiếu lên vật thể (ví dụ lớp mực trên giấy trắng) và phản xạ về mắt sẽ bị loại bỏ các thành phần màu khác với màu trên vật thể (màu mực in trên giấy). Các lớp mực trên giấy đóng vai trò như các kính lọc màu đối với ánh sáng chiếu lên : 
- Nếu lớp mực trên giấy là Cyan, ánh sáng (R+G+B) chiếu lên lớp mực này và phản xạ từ giấy trở về mắt sẽ bị loại trừ màu Red còn lại 2 màu Green + Blue tổng hợp thành màu Cyan. 
- Nếu lớp mực trên giấy là Magenta, ánh sáng chiếu lên lớp mực này và phản xạ từ giấy trở về mắt sẽ bị loại trừ màu Green còn lại 2 màu Red + Blue tổng hợp thành màu Magenta. 
- Nếu lớp mực trên giấy là Yellow, ánh sáng chiếu lên lớp mực này và phản xạ từ giấy trở về mắt sẽ bị loại trừ màu Blue còn lại 2 màu Red + Blue tổng hợp thành màu Yellow. 
- Nếu lớp mực trên giấy gồm 2 màu in chồng Cyan + Yellow, ánh sáng chiếu lên lớp mực này và phản xạ từ giấy trở về mắt bị loại bỏ 2 màu Red và Blue chỉ còn màu Green. 
- Nếu lớp mực trên giấy gồm 2 màu in chồng Cyan + Magenta, ánh sáng chiếu lên lớp mực này và phản xạ từ giấy trở về mắt bị loại bỏ 2 màu Red và Green chỉ còn màu Blue. 
- Nếu lớp mực trên giấy gồm 2 màu in chồng Magenta + Yellow, ánh sáng chiếu lên lớp mực này và phản xạ từ giấy trở về mắt bị loại bỏ 2 màu Green và Blue chỉ còn màu Red. 
- Nếu lớp mực trên giấy gồm 3 màu in chồng Cyan + Magenta + Yellow, ánh sáng chiếu lên lớp mực này sẽ bị hấp thụ hoàn toàn, kết quả là màu đen. 
Trong tổng hợp màu trừ, các màu Cyan, Magenta, Yellow gọi là các màu tổng hợp trừ cơ bản (subtractive primary colors). 

Image
Hình 3: Tổng hợp màu trừ.
  Công thức tổng hợp màu trừ :
     Cyan + Magenta = Blue
     Cyan + Yellow = Green
     Magenta + Yellow = Red
     Cyan + Magenta + Yellow = Black
     No Colors (C = M = Y = 0) = White

Theo hình thức tổng hợp màu trừ, tất cả các màu mới tạo ra đều tối hơn các màu thành phần nên đây còn gọi là tổng hợp màu giảm sắc.

3. Tổng hợp màu trong in offset

Trong công nghệ in offset, việc phục chế màu sắc của hình ảnh dựa trên nguyên lý in chồng tram các bản tách màu tương ứng với 4 mực in cơ bản là các mực màu đơn sắc gồm: xanh (Cyan - C), đỏ sen (Magenta - M), vàng (Yellow - Y) và mực đen (Black - K). Màu sắc của hình ảnh in trên giấy mà ta cảm nhận được là sự kết hợp của cả tổng hợp màu cộng và tổng hợp màu trừ.  

Mực đen sử dụng trong in offset nhiều màu để giảm chi phí công nghệ : thay vì dùng 3 mực màu C, M, Y trộn hoặc in chồng để tạo màu đen và xám (theo lý thuyết tổng hợp màu trừ) có thể sử dụng mực đen in bổ trợ hay in trực tiếp (thay thế hoàn toàn 3 mực C, M, Y). Về mặt chất lượng, nếu chỉ dùng 3 mực C, M, Y để phục chế màu sẽ rất khó kiểm soát chất lượng in (chồng màu, cân bằng xám, độ tương phản, độ sắc nét...).

Image
Hình 4: In phục chế hình ảnh màu.

Thuật ngữ tiếng Anh của các mực C, M, Y là “chromatic process inks” (mực màu, mực hữu sắc), mực K là “achromactic process ink” (mực không có màu, mực vô sắc). Phụ thuộc vào vai trò của thành phần màu đen (mực đen) trong việc tổng hợp màu sắc của hình ảnh khi in phục chế, chúng ta có 2 phương pháp (hình thức) tổng hợp màu cơ bản trong in offset:
- Tổng hợp màu hữu sắc (chromatic composition - chromatic reproduction) : màu sắc hình ảnh in phục chế được hình thành chủ yếu bởi các mực màu C, M, Y. Thành phần mực K chỉ có tính chất bổ trợ (có hoặc không có).
- Tổng hợp màu vô sắc (achromatic composition - achromatic reproduction): màu sắc hình ảnh in phục chế lấy mực K là chủ đạo, các mực màu C, M, Y dùng để in bổ trợ.
Mỗi phương pháp tổng hợp (phục chế) màu sẽ có các hình thức tạo hình ảnh CMYK hay các cơ chế tạo các bản in tách màu CMYK tương ứng. Các không gian màu sẽ được chuyển đổi (mapping) theo Color Lookup Table hoặc ICC Profile.

Image
Hình 5 : Các phương pháp tổng hợp màu trong in offset.
 
  • Tổng hợp màu hữu sắc với màu đen in bổ trợ : 
Màu đen chỉ có ở những vùng tối nhất của hình ảnh để mở rộng khoảng mật độ hình ảnh, tăng độ tương phản và cải thiện độ sắc nét của hình ảnh trên tờ in. Tổng hợp màu vẫn chủ yếu dựa trên các màu C, M, Y. Kết quả là vẫn tốn nhiều chi phí mực in, đồng thời khi in chồng màu rất khó ổn định cân bằng xám, không gian màu phục chế hẹp (đặc biệt khi in ướt chồng ướt trên máy in nhiều màu), tờ in lâu khô …
Với các máy in nhiều màu tốc độ cao như hiện nay thì phương pháp tách màu đen in bổ trợ không còn thích hợp.
  • Tổng hợp màu hữu sắc với giải thuật UCR (Under Color Removal) :  
Màu đen K được tạo ra nhiều hơn ở vùng tối của hình ảnh (màu đen xuất hiện từ vùng mid-tone và tăng dần trong vùng shadow). Những giá trị xám trung tính ở vùng tối của hình ảnh (neutral image shadow) thay vì tổng hợp từ các màu C, M, Y sẽ được thay bằng tông màu đen tương đương. Điều này giúp tiết kiệm chi phí mực in, đồng thời do độ dày lớp mực in chồng (tổng mật độ phủ tram) ở vùng tối giảm nên tờ in mau khô hơn và bớt các sự cố tờ in bị lem, bị dính mặt hoặc bị dặm mặt… 
  • Tổng hợp màu vô sắc với giải thuật GCR (Gray Component Replacement - GCR 100%) :
Đây là phương pháp tổng hợp màu lấy màu đen là chủ đạo (dominant color). Trên toàn bộ không gian màu của hình ảnh, từ vùng sáng đến vùng tối, trị số tổng hợp ba màu C + M + Y sẽ được tách thành hai phần : giá trị xám trung tính (achromatic value) và giá trị màu (chromatic value). Giá trị xám trung tính là tổng hợp của 3 màu CMY tương ứng với màu có trị số (%) thấp nhất và được thay thế bằng trị số màu K (%) tương đương. Giá trị màu còn lại là tổng hợp của các giá trị màu thành phần trừ đi giá trị xám trung tính. Như vậy, với giải thuật GCR, để phục chế màu của hình ảnh chỉ cần màu đen và một hoặc nhiều nhất là hai trong ba mực màu C, M, Y. Phương pháp GCR rõ ràng tiết kiệm lượng mực CMY rất nhiều so với UCR. 

Về mặt chất lượng hình ảnh và chất lượng in, áp dụng phương pháp phân màu GCR khi in chồng màu cân bằng xám dễ dàng đạt được và ổn định; khả năng truyền mực tốt hơn. Nhược điểm lớn nhất của phân màu GCR là độ bão hòa màu không cao (giảm).
  • Tổng hợp màu vô sắc với màu hữu sắc bổ sung (achromatic composition with chromatic color addition - UCA)
Đây còn gọi là tổng hợp màu vô sắc không hoàn toàn (GCR 50%, GCR 70%, GCR medium, GCR heavy...). Với phương pháp này, màu đen được tạo ra để thay thế một phần giá trị xám trung tính chứ không thay thế hoàn toàn (UCA là viết tắt của Under Color Addition). Để tạo màu xám trung tính ở vùng tối của hình ảnh do mật độ mực đen không đủ, sẽ in bổ sung thêm một phần các màu C, M, Y. Chất lượng hình ảnh và chất lượng in (độ bão hòa màu, độ tương phản hình ảnh) tốt hơn phương pháp sử dụng GCR 100% đồng thời vẫn tiết kiệm mực in nhiều hơn so với phương pháp chỉ dùng UCR. 

Đây là phương pháp tổng hợp màu hình ảnh được sử dụng rộng rãi hiện nay cho cả in tờ rời và in báo cuộn. Hầu hết các ICC profile cho máy in (ICC output profile) mới nhất hiện nay phân màu CMYK theo phương pháp GCR 50%.

8 thg 4, 2010

Quản lý màu sắc - Color Settings in PS - 3

In Ấn

Tìm vào Printer Options. Option này thay đổi tùy từng máy in. Có thể vào bằng Control Panel/Printers and Faxes rồi right click vào cái printer. Nếu từ Photoshop thì chọn File/Page Setup sau đó chọn printer và vào printer options. Mỗi printer nó một kiểu, nhưng hầu hết đều tương tự như nhau (vd có thể nó đề là Advanced, có thể là Printer Options, hoặc là Printer Properties). Mò tiếp đến khi nào thấy mấy cái options về Color Management thì tắt Color Management đi. Một lần nữa, cái option này thay đổi tùy từng máy in nhưng về bản chất thì vẫn thế. Cái máy in của em thì nó thể hiện thế này


Tiếp theo, khi muốn in, ta làm như sau:
Chọn File/Print with Preview và click vào More Options (trong các version PS khác có thể nó là một cái check/uncheck Show More Options nhưng bản chất là như nhau). Chọn Color Management, trong phần Profile của Print Space, chọn profile của máy in của mình. Và in


(hộp thoại này là ví dụ lấy từ Photoshop CS2, nhưng trong các version khác, các option có thể sẽ thể hiện hơi khác một chút, nhưng về bản chất sẽ là như nhau)

5 thg 4, 2010

Quản lý màu sắc - Color Settings in PS - 2

Monitor Calibration dùng Adobe Gamma

Nói qua về Monitor Calibration dùng Hardwares
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều công cụ dùng để cân chỉnh màu sắc màn hình như Spyder, Spyder2, Spyder Pro của ColorVision, Eye-One Display2 Colorimeter của Gretag Macbeth, hay EZcolor & OPTIX XRite của Monaco Systems. Các món đồ chơi này giá từ một đến vài trăm USD. Thông thường, nó bao gồm một con mắt thần và một phần mềm. Con mắt thần dùng để gắn thẳng lên màn hình, sau đó phần mềm sẽ chạy và xuất một vài hình ảnh lên màn hình, con mắt sẽ đọc các hình ảnh đó và ghi lại các thông số, sau đó nó sẽ tạo ra một Color Profile cho màn hình. Khi máy tính khởi động, một chương trình đặc biệt sẽ được chạy và sẽ nạp cái profile này lên. Màn hình sau khi được cân chinh (calibrated) sẽ có màu sắc trung thực, đảm bảo khi in, nếu các bước khi in cũng proper, thì màu sắc của hình ảnh khi in ra sẽ không khác nhiều khi nhìn trên màn hình.

Monitor Calibration dùng Adobe Gamma
Khi cài Adobe Photoshop, ta sẽ có một chương trình gọi là Adobe Gamma dùng để cân chỉnh màu sắc màn hình bằng .. mắt thường.

Chạy chương trình Adobe Gamma: vào Control Panel, click đúp lên icon Adobe Gamma


và đây là cửa sổ chương trình Adobe Gamma



Brightness and Contrast: ta nhìn thấy các ô vuông đen và xám, và một sọc trắng. Nhiệm vụ của ta là chỉnh làm sao cho các ô màu xám đó càng đen càng tốt.

Phosphors: thông thường ta không cần quan tâm đến phần này. cứ để nguyên default của nó như thế.

Gamma: ta uncheck phần View Single Gamma Only nó sẽ hiện ra 3 phần RGB riêng biệt, như sau


Nhiệm vụ của ta sẽ là dịch chuyển các thanh sliders sao cho màu sắc của hình vuông bên trong càng gần càng tốt với màu sắc của ô vuông sọc bên ngoài.

Desired: tùy theo mình dùng máy Win hay máy Mac mà chọn Windows Default hay Mac Default.

White Point:
--> Measure: chọn white point cho màn hình. Ta sẽ thấy 3 hình vuông màu xám, và màu của chúng hơi khác nhau chút chút. Click vào hình bên trái sẽ làm cho màu của hình ở giữa "lạnh" hơn một chút, ngược lại, click vào hình bên phải sẽ làm cho màu của hình ở giữa "ấm" hơn một chút. Click một hồi, đến khi nào cảm thấy hình ở giữa trông có vẻ neutural nhất thì ta click vào nó và kết thúc(có thể dùng một tấm gray card đặt ở bên cạnh để so sánh)

--> Hardware: chọn Daylight. Nếu ta hay làm việc vào ban đêm, với đèn tròn hoặc đèn neon, thì điều chỉnh lại cho phù hợp (vd 3200 hay 5000) nhưng thông thường để daylight (6500 độ) là tốt nhất.

--> Adjust: ta chọn Same As Hardware (trong trường hợp này sẽ là 6500 độ K)

Đến đây, ta điền ghi chú vào phần Description rồi click vào OK và quá trình cân chỉnh màn hình hoàn thành.

Bây giờ quay lại Photoshop và ấn Ctrl+Shift+K để vào Color Settings. Nhìn vào phần Working Space, trong phần RGB, ta sẽ thấy cái profile mới tạo ở trong đó. (đừng chọn gì cả. phần này chỉ để check thôi. click vào Cancel để thoát ra)



Như vậy có nghĩa là Photoshop từ nay sẽ convert màu sắc để hiển thị hình ảnh trên màn hình theo đúng profile vừa tạo.

2 thg 4, 2010

Quản lý màu sắc - Color Settings in PS

Color Management nói ra thì có vẻ to tát, thực ra cũng to tát thật nhưng không phải là "to" đến mức đó, nếu chịu khó bỏ chút thời gian ra nghiền ngẫm thì nó cũng không đến nỗi quá khó. Em sẽ giải thích nhanh một số khái niệm cơ bản về input, output, color profile (cameras, monitors, printers, scanners . . . ) và hướng dẫn về cách dùng color profile phục vụ riêng cho mục đích post ảnh lên diễn đàn một cách properly. Đây là những kiến thức em đọc được qua sách báo, mạng ... và tổng hợp lại. Em cũng xin lỗi thêm là em sẽ cố gắng dùng tiếng Việt một cách triệt để nhất, để cho dễ hiểu. nhưng có thể có một số phần em ko biết dịch thế nào, thì em đành phải dùng tiếng Anh, hoặc em sẽ dịch thô và ghi chú bằng tiếng Anh. các bác thông cảm cho em phần này hì hì)

[B]Input và Output.[/B]

Một bức ảnh (image/photo) trước khi được đưa lên máy tính thì phải qua Inputs. Các thiết bị input có thể là digital cameras hoặc scanners (bao gồm cả film scanners, slide scanners, photo scanners, và tất nhiên là bao gồm tất tần tật từ flatbeds đến drums . . .) Trong cả hai trường hợp, kết quả cho ra đều là ảnh RGB bởi vì các máy cameras & scanners đều dùng RGB sensors. Điều quan trọng là, cùng là RGB nhưng có đủ các loại RGB như Adobe RGB hay sRGB ... Một lượng lớn hình trên mạng hiện nay là không có profile đi kèm(unprofiled).

Tiếp theo, khi bức ảnh được mở trong Photoshop, thì Photoshop sẽ thể hiện nó (display) trên một màn hình máy tính (monitor, bao gồm CRTs, LCDs) hoặc projector, nhiều khi lên cả màn hình TV nữa. Trong Photoshop, thông thường chúng ta làm việc trong môi trường Adobe RGB (Adobe RGB Environment), nhưng khi thể hiện trên monitor, nó sẽ chuyển đổi (convert) từ môi trường của nó (Photoshop''s color space) sang môi trường của màn hình (monitor''s color space). Vấn đề là mỗi màn hình có cách thể hiện RGB khác nhau, đây chính là lý do các bác làm đồ hoạ chuyên nghiệp phải thường xuyên cân chỉnh màn hình (calibrate their monitors) để nó thể hiện màu sắc một cách đúng nhất. Thường thì họ bắt buộc phải làm việc này hàng tuần hoặc 2 tuần 1 lần. Để cân chỉnh màn hình, người ta dùng các công cụ như Xrite, Spyder ... giá cả từ một trăm đến vài trăm USD. Dân nghiệp dư như chúng ta thì có thể dùng ngay công cụ Adobe Gama đi kèm theo Photoshop để tự cân chỉnh, nhưng cách này khá là theo cảm tính, và tất nhiên là không thể nào chính xác như cách dùng "đồ chơi" rồi. Phần này em sẽ nói sau.

Tiếp theo, sau khi làm việc với bức hình trên Photoshop, thì chúng ta xuất hình ra Outputs. Outputs có thể là Web và Printers. Nếu output là web (trong trường hợp của chúng ta là post lên forum) thì chúng ta sẽ phải convert bức ảnh đó từ Adobe RGB sang sRGB. Còn nếu output là printers, thì để in một cách chuẩn xác nhất, ta cần có color profile của cái máy in mà chúng ta sẽ in. Printers không dùng RGB mà dùng CMYK, đây chính là điều mà rất rất nhiều người thắc mắc và hiểu sai rất trầm trọng. Phần này em cũng sẽ nói sau.


 

trước hết mời các bác open Photoshop, ấn Ctrl+Shift+K để mở Color Settings Dialog Box và chỉnh các thông số như thế này.



Cái dialog box này nhìn vào thì rõ là rắc rối. tất nhiên chả ai dại gì đụng vào nó cho rách việc. nhưng nếu mình biết ý nghĩa của nó thì mình sẽ control được nó chứ.

Giải thích:

Settings: là tập hợp các settings mà mình chọn (hoặc có sẵn). trên máy em thì em set và save sẵn nên trông nó thế. trên máy các bác thì có thể nó đề là U.S. Prepress Default. cái phần này tại thời điểm này chưa quan trọng lắm. vì trong phần tiếp theo em sẽ hướng dẫn làm sao thay đổi nó một cách hợp lý nhất.

Advanced Mode: cái này nói sau. bây h tạm thời cứ uncheck nó đi đã cho đỡ rắc rối.

Working Spaces:phần này quan trọng đây, vì nó chính là môi trường làm việc của PS.

-->RGB: dùng để chọn RGB working space. Ta chọn Adobe RGB. Một số profile thông thường là Adobe RGB, Apple RGB, sRGB . . . trong đó sRGB là space nhỏ nhất và thích hợp với 99% monitors trên thế giới (vì vậy nó mới là profile dùng cho web graphics). Apple RGB là profile dành cho màn hình máy Mac. AdobeRGB là một space khá lớn và vì vậy, nó có thể ''bao gồm'' các space khác. do đó, tốt nhất là chọn Adobe RGB vì sau này nếu cần, ta có thể chuyển sang space khác (convert) một cách dễ dàng.

-->CMYK: dùng để chọn CMYK working space. phần này dành cho các bác làm việc với chế bản như Quark Express, InDesign. Vì ta không làm việc với print graphics nên cái này không (chưa) quan trọng. chọn thế nào cũng được.

-->Gray và Spot: để default value (20%)

Color Management Policies: dùng để quản lý color profiles khi mở mới một image/photo.

Đối với một image trên máy tính, có thể nó không có profile (unprofiled) có thể nó là sRGB, có thể là AdobeRGB, có thể là một cái CMYK profile nào đó, cũng có thể profile của nó linh tinh (profile zời ơi đất hỡi nào đó, ai đó nghịch ngợm chẳng hạn).

-->RGB: phản ứng khi mở file và làm việc trong môi trường RGB. Tốt nhất là chọn Convert to Working RGB. nếu các bác theo dõi và làm theo đúng các bước thì hiện giờ Working RGB đang là Adobe RGB, và như đã giải thích, đây là không gian màu khá lớn nên nó bao quát gần như tất cả các không gian khác. ví dụ nếu hình của mình là sRGB nhưng mình chọn convert to Adobe RGB thì dù không có thêm tí màu nào nhưng trong quá trình làm việc với hình ảnh, mình có nhiều sự lựa chọn về màu sắc hơn (flexible)

-->CMYK: Nếu một bức ảnh mà có CMYK profile đi kèm với nó, thì thông thường người tạo ra nó biết anh ta đang làm gì với nó (he knows whatever the heck he's doing) vì vậy cách tốt nhất là nó thế nào thì mình giữ nguyên. tức là để Preserve Embedded Profiles.

-->Gray: Chọn là Off

-->Profile Mismatches: Nghĩa là nếu mở một image file ra mà cái profile của nó không trùng với Working Space thì làm thế nào. --> ta check vào Ask When Openinguncheck Ask When Pasting vì khi open file, ta có thể chọn Working Space của ta hoặc của cái image đó(tùy từng mục đích). Còn khi paste thì tất nhiên là phải dùng cái space mà ta đang làm việc.

-->Missing Profiles: là khi mở một image file mà nó bị miss profile, hay nói cách khác là không có profile (unprofiled). Trong trường hợp này thì uncheck Ask When Opening nghĩa là ta sẽ dùng setting mà ta định sẵn ở trên: nếu image đó là RGB thì tự động convert sang Working RGB, còn nếu là CMYK thì giữ nguyên.

OK tiếp theo đến phần Advanced Mode. Trong Photoshop CS2 thì không có cái check/uncheck vào Advanced Mode mà là More Option/Fewer Option. Về bản chất là như nhau.

Phần này chủ yếu dành cho dân Color Technicians. Tuy nhiên có một option mà ta cần đổi, đó là Intent. Default của nó là Relative Colormetric. Option này thực chất là dành cho Presentation Graphics (pie charts, vector illustrations . . .) Adobe để default là Relative Colormetric chẳng qua là để đồng nhất với Illustrator và InDesign. Tuy nhiên ta không làm việc với 2 chuơng trình đó nên sẽ chuyển option này thành Perceptual, là option dành cho pixel images. Phần Engine thì giữ nguyên là Adobe (ACE)

OK sau khi set rồi thì chúng ta có thể Save lại để sau này dùng (chọn Save, rồi save thành một file. Ở đây em save thành Teddy CS Color Profile Settings). Sau này nếu ai "nghịch" ngợm vào máy mình, thay đổi thông số linh tinh, ta chỉ cần chọn lại cái settings ta đã save là xong. Hoặc là khi ta chuyển sang máy khác dùng, ta chỉ cần Load cái settings đã save sẵn là được.


Choosing a proper color profile for each specific purpose.

Nếu có nhiều storage thì ta save thành file PSD hoặc TIFF, nhưng có những trường hợp thì file PSD/TIFF quá lớn và file không quan trọng, ta chỉ cần save ở dạng JPG là đủ. Thông thường, working space là AdobRGB, và đó image ta đang làm việc là image gốc, vì vậy để lưu trữ, ta save profile này với cái image. Ta chọn File/Save As để mở Save As Dialog Box, nhìn xuống dưới, sẽ thấy có tuỳ chọn ICC Profile: Adobe RGB (1998). đánh dấu tuỳ chọn này và click vào nút Save. Mức nén chọn là 12 (Maximum) vì đây là file gốc.


Đó là image gốc, ta cất vào một chỗ, khi nào cần sẽ lấy ra sử dụng. Khi cần post hình lên forum, ta làm như sau:

-Image/Mode/Convert to Profile -->; chọn sRGB IEC61966-2.1. Phần Intent nhớ để ý nó phải là Perceptual





Trong Photoshop CS2 thì cái Option này nó nằm trong mục Edit/Convert To Profile


Bước tiếp theo là File/Save For Web và cân chỉnh các mức nén sao cho phù hợp. Tuy nhiên, quan trọng là phải check vào phần ICC Profile nếu không thì bức ảnh sẽ ko có profile (unprofiled, hay profile mising). Nếu bị profile missing, thì khi mở ra trong Photoshop, nó sẽ được tự động gán cho AdobeRGB profile nếu như phần Color Settings ta set như trên.


Lưu ý là nếu Save For Web, thông tin trong file JPG sẽ được rút gọn xuống một cách tối đa, mục đích là để làm cho file càng nhỏ càng tốt. Vì thế, các thông tin không phục vụ cho mục đích thể hiện file như EXIF chẳng hạn, sẽ bị xóa bỏ hoàn toàn. Nếu không muốn các thông tin này bị xóa bỏ, ta dùng File/Save As như ở trên, sau đó cũng lựa chọn các mức nén cho phù hợp Thường thường thì mức số 8 hoặc 9 là vừa vặn. Em hay để ở 8 hoặc 9, tùy từng image.

ảnh sau khi Save For Web, có thể tự kiểm tra xem nó có phải sRGB hay chưa bằng cách dùng PS mở nó ra. nếu phần Color Settings đã set đúng như trên thì sẽ thấy PS hiện lên bảng thông báo "Embedded Profile Mismatch". Nếu nhìn xuống dưới sẽ thấy nó bảo: embedded là sRGB IEC61966-2.1 và Working là Adobe RGB (1998) --->; vậy là file đó được saved một cách properly và ready to go to the web.

===================
Vậy thôi. Từ nay khi ảnh các bác đưa lên web, IE của người xem sẽ biết chính xác phải thể hiện bức ảnh đó thế nào trên màn hình (IE tự động convert profile của hình sang sRGB để thể hiện). Còn cái hình đó màu sắc thể hiện đúng đến đâu thì lại là vấn đề của người xem. Người đó muốn xem chính xác thì phải tự cân chỉnh màn hình của mình. Xin mời xem tiếp phần 2: Monitor Calibration dùng Adobe Gama và các phần phụ: Làm thế nào để hình in ra có màu sắc giống với màu trên màn hình nhất (dùng máy in màu inkjet) và Camera Color Calibration 
Còn tiếp...